Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng đối với Chương trình 'Mỗi xã một sản phẩm' (OCOP) của tỉnh Thái Nguyên sau sáp nhập. Quy mô sản phẩm được mở rộng, chất lượng tiếp tục nâng lên, tạo động lực thúc đẩy kinh tế nông thôn và gia tăng vị thế nông sản Thái Nguyên trên thị trường trong nước và quốc tế.
Địa danh Khe Cốc, xã Vô Tranh là một trong những vùng sản xuất chè tiêu biểu của tỉnh Thái Nguyên. Nhờ khí hậu mát mẻ và đất đai mầu mỡ, cây chè phát triển ổn định, cho sản phẩm có hương vị riêng. Bên cạnh chè trung du truyền thống, chè tím đang góp phần làm phong phú sản phẩm, tạo dấu ấn cho vùng chè này.
Trên những triền đồi xanh bát ngát ở khắp các vùng quê như: Tân Cương, La Bằng, Trại Cài, Quân Chu, Phúc Thuận… cây chè từ bao đời vẫn lặng lẽ đơm hương, góp vị ngọt cho đời, giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh. Những năm gần đây, nhờ đổi mới về sản xuất, chế biến, búp chè Thái Nguyên càng vươn mình mạnh mẽ, mang theo khát vọng tiến ra thế giới, chinh phục những thị trường khó tính.
Thái Nguyên khẳng định vai trò hợp tác xã trong phát triển kinh tế nông thôn, giảm nghèo bền vững, thông qua các mô hình liên kết sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật.
Thái Nguyên đang nổi lên như điểm sáng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Từ nền tảng dựa chủ yếu vào công nghiệp truyền thống và khai khoáng, tỉnh đã chủ động chuyển hướng sang mô hình tăng trưởng dựa trên công nghệ, dữ liệu và chiều sâu. Đây là bước đi mang tính chiến lược, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.
Ứng dụng công nghệ số và cơ giới hóa đang mở ra bước chuyển mình mạnh mẽ cho ngành chè Thái Nguyên, không chỉ nâng tầm thương hiệu mà còn tạo sinh kế ổn định, góp phần giảm nghèo bền vững cho hàng chục nghìn hộ nông dân.
Các làng nghề giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển ngành chè Thái Nguyên, vừa nâng cao giá trị sản phẩm, vừa tạo việc làm và cải thiện đời sống người dân. Hiện nay, nhiều làng nghề đang chuyển đổi để đáp ứng nhu cầu thị trường, đồng thời nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên.
Thái Nguyên từ lâu được mệnh danh là 'Đệ nhất danh trà' của Việt Nam, hương vị đặc trưng đã trở thành nét văn hóa và niềm tự hào của vùng trung du. Tuy nhiên, trên thị trường xuất khẩu, giá trị chè Thái Nguyên vẫn còn khiêm tốn. Từ đầu năm 2025 đến nay, kim ngạch xuất khẩu mới đạt khoảng 45.000 USD, con số chưa tương xứng với tiềm năng, thương hiệu và vị thế vốn có.
Thái Nguyên có khá nhiều loại trà như trà búp, móc câu, nõn tôm… Tuy nhiên, trà đinh là loại chè cao cấp nhất vùng đất được mệnh danh 'đệ nhất danh trà'. Chính phẩm cấp và sự độc đáo trong cách chế biến, đã khiến cho trà đinh trở nên đắt đỏ, được nhiều người 'săn lùng' làm quà tặng nhân ngày lễ, Tết.
Thái Nguyên hiện có 278 làng nghề được công nhận, hình thành mạng lưới sản xuất đa dạng và giàu bản sắc. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh trở thành điểm sáng về phát triển làng nghề ở vùng trung du và miền núi phía Bắc, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông thôn và lan tỏa giá trị văn hóa địa phương.
Nhằm phát triển ngành chè Thái Nguyên gắn với mục tiêu cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng bền vững, hiện đại, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 3/2/2025, trong đó đề ra mục tiêu phấn đấu tổng giá trị sản phẩm thu được từ cây chè đến năm 2030 đạt 25 nghìn tỷ đồng.
Từ năm 1993 trở về trước, sản phẩm chè Việt Nam nói chung và chè Bắc Thái (nay là Thái Nguyên) chỉ xuất khẩu sang 3 nước là Nga, Anh và Trung Quốc, nay đã mở rộng thị trường tiêu thụ lên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thời hoàng kim, hoạt động xuất khẩu chè của tỉnh khá nhộn nhịp với hàng chục công ty thu mua xuất khẩu, đặt nhà máy chế biến ở nhiều vùng chè.
Từng được ví như 'linh hồn' của thương hiệu chè Thái Nguyên, chè trung du nay chỉ còn lại trên một phần nhỏ đất chè. Tuy nhiên, vẫn có những người âm thầm giữ lấy giống chè cổ như giữ một phần ký ức, giữ lại cốt cách riêng của đất chè. Họ kiên trì phục hồi, ứng dụng kỹ thuật, đa dạng hóa sản phẩm, để không chỉ 'giữ hồn' chè trung du mà còn nâng tầm giá trị của nó trên thị trường.
Có câu nói 'Hạnh phúc là một hành trình chứ không phải là một đích đến', và hạnh phúc của mỗi người, mỗi nghề lại được đo đếm, cảm nhận theo một cách khác nhau. Với những người nông dân mà chúng tôi gặp, hạnh phúc là làm ra, nâng tầm những sản phẩm nông sản đặc trưng vốn có của vùng đất, quê hương; là mồ hôi, trí óc, tâm huyết được kết tinh trên từng sản phẩm; là quá trình họ mạnh dạn từ bỏ thói quen, thay đổi tư duy sản xuất để hướng tới một giá trị mang tính bền vững, mang lợi ích cho cộng đồng.
Với hơn 60% số dân sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, Thái Nguyên luôn quan tâm tới việc hỗ trợ người dân liên kết trong tiêu thụ nông sản. Đặc biệt, tỉnh đã tiến hành đa dạng các hình thức kết nối để sản phẩm của nông dân đến được với thị trường trong nước, quốc tế.
Tỉnh Thái Nguyên với trên 22.300 ha chè, sản lượng mỗi năm đạt trên 272.000 tấn, dẫn đầu cả nước về sản xuất chè. Tuy nhiên, sản phẩm chè Thái Nguyên vẫn chủ yếu tiêu thụ ở thị trường nội địa, xuất khẩu chè của tỉnh có sản lượng và giá trị thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, việc xây dựng và phát triển nhãn hiệu tập thể (NHTT) 'Chè Thái Nguyên' - 'tấm giấy thông hành' đầu tiên để sản phẩm chè đến với những thị trường có tiềm năng xuất khẩu - là đòi hỏi cấp thiết. NHTT mang tính cộng đồng, nếu không có sự đồng lòng quản lý, duy trì thì khó phát huy hiệu quả. Do đó, để quản lý và phát triển NHTT 'Chè Thái Nguyên' cần sự vào cuộc mạnh mẽ với những giải pháp đồng bộ, hiệu quả của các ngành, địa phương và chính người sử dụng NHTT...
Từ lợi thế về điều kiện tự nhiên và truyền thống canh tác của người dân, chè Thái Nguyên từ lâu đã trở thành đặc sản danh tiếng gần xa. Để chè trở thành sản phẩm có thương hiệu mạnh, tỉnh đã quan tâm quy hoạch, phát triển vùng sản xuất, tăng cường quảng bá thương hiệu; đồng thời tạo hành lang khuyến khích, bảo hộ sở hữu trí tuệ, nhất là nhãn hiệu tập thể đối với sản phẩm chè. Từ đó xây dựng sản phẩm, thương hiệu 'Chè Thái Nguyên' có uy tín trong nước và vươn ra thị trường quốc tế.
Phát triển nông nghiệp gắn với dịch vụ, du lịch nông nghiệp, nông thôn được xem là một trong những giải pháp quan trọng trong xây dựng nông thôn mới. Đây là cơ hội để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trước xu thế đô thị hóa phát triển nhanh, đất sản xuất ngày càng thu hẹp.
Chuyển đổi sang sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học đang có hiệu ứng mạnh mẽ ở nhiều địa phương khi nông dân thấy khỏe hơn, chi phí thấp hơn mà hiệu quả sản xuất vẫn đảm bảo.
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ ngày càng được khẳng định vị thế trước xu hướng tiêu dùng xanh, bền vững với môi trường.
Càng gần Tết Nguyên đán, các HTX cũng như các hộ trồng chè trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên càng tất bật đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng phục vụ người tiêu dùng, đặc biệt là những sản phẩm đặc sắc trong dịp tết đến, xuân về.
Thời điểm này, các HTX, làng nghề, cơ sở sản xuất, kinh doanh chè trên địa bàn huyện Phú Lương đang đẩy mạnh sản xuất để cung ứng cho thị trường Tết những sản phẩm chất lượng, mẫu mã đẹp, giá cả cạnh tranh.
Thời gian qua, huyện Phú Lương chú trọng đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng vùng chè VietGAP, chè hữu cơ… Nhờ đó thương hiệu chè Phú Lương ngày càng được khẳng định trên thị trường.
Những ngày này, tại khắp các vùng chè trên địa bàn huyện Phú Lương, không khí chuẩn bị cho Ngày hội vinh danh các làng nghề chè lần thứ ba năm 2023, với chủ đề 'Phú Lương - Hội nhập và Phát triển', đang diễn ra sôi nổi, khẩn trương.
Tại Lễ tôn vinh 100 nông dân Việt Nam xuất sắc và 63 hợp tác xã nông nghiệp tiêu biểu toàn quốc, Thái Nguyên có 2 nông dân và 1 hợp tác xã được tôn vinh.
Các cấp Hội Nông dân trong tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ hội viên, nông dân, góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển bền vững,
Không chỉ bằng ý chí, nghị lực vươn lên làm giàu trên mảnh đất quê hương, nhiều nông dân trên địa bàn tỉnh còn mạnh dạn thay đổi tư duy, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, chủ động thích ứng với thị trường.