Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…
Không chỉ là đạo diễn tài năng, NSND Phạm Thị Thành còn là nhà quản lý văn hóa tâm huyết
Thông tin từ Nhà hát Tuổi Trẻ cho biết, TS.NSND Phạm Thị Thành - nguyên Giám đốc Nhà hát Tuổi Trẻ, nguyên Cục phó Cục Nghệ thuật biểu diễn, nữ đạo diễn sân khấu đương đại đầu tiên của Việt Nam được nhận giải thưởng Văn học nghệ thuật Nhà nước vào năm 2012, đã qua đời tối 3/9, thọ 85 tuổi.
Lúc sinh thời, NSND Phạm Thị Thành được xem là nữ đạo diễn tiên phong của sân khấu Việt Nam với xuất thân trong gia đình 'trâm anh thế phiệt'.
Trong suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình, Nghệ sỹ Nhân dân Phạm Thị Thành được giới trong nghề đánh giá là một tấm gương về sự lao động, cống hiến hết mình cho nghệ thuật.
NSND Phạm Thị Thành, đạo diễn gạo cội của làng sân khấu (bà dàn dựng hơn 200 vở diễn, trong đó gần 20 vở đoạt Huy chương Vàng, nhiều vở giành Huy chương Bạc), một trong những người sáng lập Nhà hát Tuổi trẻ vừa qua đời ở tuổi 85.
NSND Phạm Thị Thành - nguyên Giám đốc Nhà hát Tuổi Trẻ, nguyên Cục phó Cục Nghệ thuật biểu diễn qua đời ở tuổi 85.
Đạo diễn, nghệ sĩ Phạm Thị Thành đã cống hiến và dành cả cuộc đời cho sân khấu Việt Nam. Bà vừa qua đời, thọ 85 tuổi
Khoảng năm 1850, tao đàn thơ văn Tùng Vân thi xã (hay Mạc Vân thi xã) ra đời bên dòng sông An Cựu, trở thành một hội thơ nổi tiếng của Cố đô Huế ngày xưa.
Triều Nguyễn đón Tết bằng nhiều lễ lượt, phong tục, trò chơi… Trong ba ngày Tết, các ông hoàng, bà chúa rất bận rộn, chúc Tết, tiếp khách không dứt.
Đó là loài hoa có tên khoa học Mirabilis jalapa, nhưng xưa kia, phi tần mỹ nữ trong hậu cung nhà Nguyễn dùng làm đẹp nên nó còn có tên 'hoa cung nữ' hay 'hoa tiên'. Còn dân gian gọi là bông phấn, sâm ớt, yên chi…
Bên dòng sông An Cựu chảy qua phường Vĩnh Ninh, TP Huế, nguyên thủy là phủ Tùng Thiện Vương bề thế của hoàng tử Miên Thẩm (1819-1870), con trai thứ 10 của vua Minh Mạng.
Mới đây, trên Thừa Thiên Huế Online có bài viết 'An Cựu - Dòng sông tuổi thơ tôi' của tác giả Dương Đăng Bảo Khánh. Sau khi đọc bài, có bạn đọc gửi thư đề nghị tòa soạn lý giải giúp vì sao sông An Cựu lại 'nắng đục mưa trong'?
Buổi chiều ấy, tôi như một kẻ mộng du qua cầu Bến Ngự trên sông An Cựu (TP Huế). Tiếng mõ chùa Phổ Quang vẳng lên trong màn sương đang buông xuống. Mái tường cổng phủ của ông Hoàng thi ca Miên Thẩm (con vua Minh Mạng) bên sông ánh lên một màu vàng sẫm cô liêu.
Buổi yến được tái hiện trong không gian cổ kính của nhà hát Duyệt Thị Đường cách đây hơn 12 năm.
Có một phần đời gắn bó với xứ Huế, thi nhân Cao Bá Quát đã góp thêm những bài thơ sâu sắc về con người và phong cảnh Huế.
Về Quảng Trạch Quận công Nguyễn Phúc Miên Cư (1829-1854) - hoàng tử thứ 47 của hoàng đế Minh Mạng, sách Đại Nam liệt truyện đã miêu tả là một người 'lúc trẻ đĩnh ngộ kỳ lạ, mới 20 tuổi, đi học, học các kinh sử đến cả sách các gia, các tử… Đàm luận giỏi, viện dẫn đều có căn cứ, lời thơ rất phong nhã, có tiếng về thơ'. Đặc biệt, ông có tập thơ Cống Thảo Viên do Tùng Thiện Quận vương Miên Thẩm san khắc và đề tựa.
Tương truyền rằng nhà Nguyễn từ thời vua Minh Mạng có 'tứ bất lập' hay 'tứ bất khả' có nghĩa là không lập Hoàng hậu, không phong Tể tướng, không phong Vương, không lấy Trạng nguyên.
Từ xửa từ xưa, người Việt đã có câu 'Vui như Tết'. Vậy thì Tết xưa vui như thế nào, cũng là dịp Tết đến để cùng nhau hiểu thêm về một nét đẹp độc đáo trong tâm thức người Việt. Tết là dịp được ăn, được chơi, được tặng quà và nhiều nghi lễ được bảo tồn và gợi lại truyền thống dân tộc. Chẳng thế mà, trong nhịp sống hiện đại, có lúc có ý kiến cho rằng nên… bỏ Tết Nguyên đán, mà nhập vào Tết Dương lịch cho gọn nhẹ, đỡ tốn thời gian, nhưng đã là phong tục thì đâu dễ gì bỏ được?
Thời Lê Trung hưng, chúa Trịnh khi thiết triều được ngồi bên trái ngai vua, nhưng vật để ngồi chỉ gọi là ghế chứ không gọi là ngai.
Cao Bá Quát (?- 1855) - xuất thân từ dòng họ Cao làng Phú Thị, Gia Lâm - 'Dõi đời khoa bảng xuất thân/ Trăm năm lấy tiếng thanh cần làm bia' như lời Cao Bá Nhạ. Nhưng đến đời thân sinh Cao Bá Quát đã sa sút, gặp thời loạn lạc, cụ lấy nghiệp dạy học kiếm sống và hằng trông mong vào cặp con trai song sinh, đặt tên con theo những bậc thần tử nhà Chu (Đạt, Quát) để mong có ngày mở mặt sau này.
Những ngày gần đây, cựu hoa hậu Hà Kiều Anh đã khiến dư luận xôn xao khi nhận mình là 'công chúa' đời thứ 7 nhà Nguyễn. Cô cho biết, mình là hậu duệ của Tuy Lý vương, một vị hoàng tử của nhà Nguyễn...
Hà Kiều Anh cho biết, bà nội cô thuộc dòng dõi Tuy Lý Vương, con trai thứ 11 của vua Minh Mạng; ông hoàng này nổi tiếng uyên bác và là nhà thơ nổi tiếng đương thời.
Theo các tư liệu lịch sử còn lưu lại, hoàng tử, công chúa ngày xưa thường có nhiều hoạt động đón Tết, chơi xuân.
Bà là công chúa Nguyễn Phước Vĩnh Trinh, con gái của vua Minh Mạng.
Đó là công chúa Nguyễn Phước Vĩnh Trinh, hoàng nữ thứ 18 của vua Minh Mạng.
Đó là công chúa Nguyễn Phước Vĩnh Trinh, hoàng nữ thứ 18 của vua Minh Mạng.
Bà là con gái thứ 25 của vua Minh Mạng và là nữ sĩ nổi tiếng trên văn đàn nước ta vào nửa cuối thể kỷ 19.
Nhiều người vẫn cho rằng theo lệ 'tứ bất lập', triều Nguyễn không phong tước vương, nhưng thực tế vẫn có những vị hoàng thân được phong vương lúc đang còn sống.
Theo các tư liệu lịch sử còn lưu lại, hoàng tử, công chúa ngày xưa thường có nhiều hoạt động đón Tết, chơi xuân.
Nhiều người vẫn cho rằng theo lệ 'tứ bất lập', triều Nguyễn không phong tước vương, nhưng thực tế vẫn có những vị hoàng thân được phong vương lúc đang còn sống.
Sau một thời gian đây đó, Hồ Xuân Hương trở lại Khán Xuân dựng Cổ Nguyệt đường để làm thơ và dạy học. Cổ Nguyệt đường nhìn ra hồ Tây xanh bát ngát mầu sen. Có lẽ thời gian ở bên hồ Tây là phần đời an bình nhất của nữ sỹ. Nếu đúng mộ bà ở Hồ Tây, mảnh đất thẫm huyền thoại thì ta cũng không cần biết chính xác ở vị trí nào, vì bà cũng là một huyền thoại của Hồ Tây.
Qua một đợt khảo sát thực địa ở cánh đồng Thanh Lam, tôi đã tìm thấy tấm bia 'Thanh Lam tự điền bi ký' vào năm 2001 (theo Nhật ký nghiên cứu Huế, đề ngày 2/7/2001).