Beta

Chiến thắng bằng mưu lược

Bản kế hoạch giải phóng miền Nam được Bộ Chính trị thông qua sau 8 lần họp, sửa đổi và bổ sung. Quyết định cuối cùng vào cuối năm 1974 là thực hiện Tổng tiến công vào mùa Xuân năm 1975. Quyết tâm chiến lược này thể hiện một tư tưởng xuyên suốt: Sắp đặt thế trận, chọn đúng điểm hiểm yếu để giáng đòn quyết định, tạo đột phá chiến lược; thực hiện phương châm 'thần tốc, táo bạo, bất ngờ' khiến kẻ địch không kịp trở tay.

Cầu Sông Bờ, tỉnh Gia Lai bị sập năm 1975, ngăn không cho đoàn xe của quân ngụy rút chạy khỏi Tây Nguyên. Ảnh: Lệ Giang

Cầu Sông Bờ, tỉnh Gia Lai bị sập năm 1975, ngăn không cho đoàn xe của quân ngụy rút chạy khỏi Tây Nguyên. Ảnh: Lệ Giang

“Căng địch” ra giữ ở hai mặt trận

Trước khi mở cuộc tổng công kích, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã triển khai kế sách “nghi binh, kìm chân” đối phương ở hai đầu chiến tuyến. Tại phía Bắc, ta uy hiếp mạnh ở mặt trận Trị - Thiên; tại phía Nam, ta gây áp lực quanh Sài Gòn và các vùng ngoại vi. Mỹ - ngụy rơi vào cái bẫy dàn mỏng lực lượng để đối phó, tạo điều kiện cho ta thực hiện cú đấm thép tại Tây Nguyên.

Để hiện thực hóa diệu kế này, từ nhiều năm trước, hệ thống đường vận tải chiến lược Trường Sơn đã được mở rộng và hoàn thiện. Đây chính là "huyết mạch" cho phép xe cơ giới hoạt động linh hoạt, vận chuyển thần tốc vũ khí hạng nặng và các binh đoàn chủ lực tinh nhuệ từ miền Bắc vào vị trí tập kết. Khả năng cơ động này chính là yếu tố quyết định, giúp ta chuyển trạng thái tác chiến cực nhanh trên mọi địa hình.

Gần Tết Nguyên đán Ất Mão năm 1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng tham trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, với mật danh A.75, bí mật hành quân vào chiến trường, thay mặt Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ huy tại mặt trận. Mọi biện pháp bảo mật, nghi binh được thực hiện để đánh lạc hướng địch. Hằng ngày, mọi hoạt động, sinh hoạt của Đại tướng Văn Tiến Dũng vẫn được tổ chức bình thường, như xe riêng đưa đón Đại tướng đi lại đúng giờ, tổ chức đánh bóng chuyền... Tình báo của Mỹ - ngụy vẫn chưa phát hiện thấy có dấu hiệu “động binh”. Chúng không biết rằng, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã ăn Tết tại mặt trận Tây Nguyên.

Đầu năm 1975, Bộ Tổng tư lệnh đã sử dụng lực lượng Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên đánh uy hiếp để “cầm chân” quân địch tại Trị - Thiên, đặc biệt “giữ” sư đoàn nhảy dù của địch tại chỗ không thể rút lên Tây Nguyên yểm trợ.

Trong nghệ thuật quân sự tuyệt mật, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chọn Tây Nguyên là “đột phá khẩu”. Phải làm tốt công tác nghi binh, “lừa” địch bằng cách nào, điều quân ra sao đều được đẩy lên nghệ thuật cấp chiến lược. Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên điều động những trung đoàn công binh đến mở đường lớn, xe kéo pháo hạng nặng đến vị trí tập kết, dội pháo dữ dội vào phía Bắc Tây Nguyên, các đơn vị bộ binh đánh chiếm nhiều nơi khác. Phải “làm dữ” như vậy, địch mới tin quân ta đang mở chiến dịch đánh lớn vào Bắc Tây Nguyên.

Di tích lịch sử Chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh ở tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: Lệ Giang

Di tích lịch sử Chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh ở tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: Lệ Giang

Nghi binh sư đoàn thiện chiến

Trước tình hình nguy khốn, tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy họp với Sư đoàn trưởng Sư đoàn 23 ngụy và Tỉnh trưởng Đắk Lắk. Tướng Phú nhận định, “Cộng sản” đánh Đức Lập, uy hiếp Buôn Ma Thuột chỉ để nghi binh, tạo điều kiện cho vài ngày tới sẽ tập trung lực lượng đánh vào Kon Tum - Pleiku. Do vậy, việc chính hiện nay là tăng cường mọi khả năng đối phó với địch ở trọng điểm là Kon Tum - Pleiku. Đến gần thời điểm quân ta nổ súng tấn công Buôn Ma Thuột, nhưng Tư lệnh Phú vẫn cả quyết: Nhất định Pleiku là hướng chủ yếu, vì Sư đoàn 320 của “Việt cộng” vẫn ở đó, còn Sư đoàn 10 “Việt cộng” vẫn ở Đắk Tô - Tân Cảnh. Ở Buôn Ma Thuột cũng sẽ có hoạt động phối hợp bằng đặc công, pháo kích, nhưng không phải hướng chính.

Ngờ đâu, Sư đoàn 320 đã bí mật cơ động về Nam Tây Nguyên ém quân trong các khu rừng già trước đó. Toàn bộ Sư đoàn 320 rút quân để nguyên hiện trạng bộ phận thông tin, hằng ngày vẫn “đánh trận giả” bằng cách phát đi những bức điện điều quân đánh mạnh vào phía Bắc Tây Nguyên. Cách làm này là cố tình cho tình báo địch bắt được “tin giả” quân ta đang chuẩn bị đánh mạnh vào Bắc Tây Nguyên. Nghệ thuật nghi binh bằng vô tuyến điện được đẩy lên ở mức cao, đến nỗi tình báo Mỹ - ngụy khẳng định như “đinh đóng cột”, mũi tiến công của sư đoàn thiện chiến còn ở Bắc Tây Nguyên.

Toàn bộ diệu kế được Bộ Tổng hành dinh và Bộ Chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên sắp đặt xong, buộc địch phải điều toàn bộ lực lượng mạnh nhất lên phía Bắc Tây Nguyên để ứng phó. 1 giờ 55 phút, ngày 10/3/1975, quân ta nổ súng tấn công Buôn Ma Thuột. Sau thời gian ngắn, hầu hết các mục tiêu quan trọng trong thị xã Buôn Ma Thuột đều bị quân ta đánh chiếm.

Mất Buôn Ma Thuột, quân địch ở Tây Nguyên bị rối loạn. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên đã sử dụng nhiều đơn vị cơ động đánh chặn quân chi viện của địch đổ bộ bằng đường không trên quốc lộ 26 và từ hướng Gia Lai về cứu nguy cho Buôn Ma Thuột, đồng thời bố trí lực lượng mai phục nhiều vị trí đề phòng địch tiếp tục đổ bộ bằng đường không ứng cứu Buôn Ma Thuột.

Ngày 11/3/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu họp với các tướng ngụy bàn “cứu” hay “thả” Tây Nguyên. Trước đó, tướng Phạm Văn Phú đã thề “tử thủ Buôn Ma Thuột” nhưng không chịu nổi trước đòn đánh bất ngờ của quân ta, toàn bộ quân ngụy tháo chạy khỏi Tây Nguyên theo đường số 7 hướng về ven biển. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên lệnh cho một số đơn vị cắt rừng chặn đánh địch rút chạy ở Cheo Reo - Phú Bổn. Cả đoàn xe quân sự bị mắc kẹt ở Phú Bổn, trở thành con đường bi thảm nhất của cuộc tháo chạy.

Ngày 18/3/1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp phát biểu: “Tình hình đang chuyển biến rất nhanh. Mở đầu tiến công mới 10 ngày đã tiêu diệt đại bộ phận Quân đoàn 2 ngụy, giải phóng Tây Nguyên. Đã xuất hiện hành động co cụm lớn của địch. Quân ngụy suy yếu rõ rệt. Lực lượng so sánh đã thay đổi. Do ngụy suy yếu nhanh, Mỹ cũng không dám liều lĩnh, ít khả năng can thiệp trở lại. Ta đang sung sức, lực lượng tập trung, khí thế mạnh mẽ. Quân ủy Trung ương đề nghị Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975, không chờ đến năm 1976”.

Lệ Giang

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/chien-thang-bang-muu-luoc-post502992.html