Beta
Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)

Tháng 10 năm Đinh Mùi (1847), Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con thứ hai của vua Thiệu Trị, sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1829) lên ngôi (tức vua Nguyễn Dực Tông), đặt niên hiệu Tự Đức (1848-1833). Vua Tự Đức là ông vua trị vì lâu nhất của triều Nguyễn (38 năm). Về chế đúc và lưu thông tiền tệ, vua Tự Đức thừa kế mọi chế độ của vua Minh Mệnh, vua Thiệu Trị và cũng cho đúc các loại tiền: tiền đồng, tiền kẽm, tiền bạc, tiền vàng để lưu thông, đồng thời cũng cho đúc tiền mỹ hiệu.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc

Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), triều đình ban hành quy định đúc bạc kiểu mới, mỏng hơn, có dấu niên hiệu, năm đúc, tên tỉnh và chữ 'nội thảng'. Mỗi tỉnh (trừ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Ninh Bình) được cấp khuôn đúc bạc 10 lạng và 1 lạng. Bộ Hộ quy định bạc không có dấu đúng chuẩn chỉ lưu hành đến tháng Giêng năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Dân muốn đúc lại phải nộp đơn, trả công thợ. Năm tỉnh Thừa Thiên, Gia Định, Hà Nội, Bình Định, Nghệ An lập sở đúc, quan sở tại quản lý việc đúc bạc.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ IV: Tiền bằng bạc

Đời vua Minh Mệnh cho đúc bạc tròn, nhưng số lượng ít. Đời vua Thiệu Trị tiếp tục đúc bạc tròn, đa dạng hơn nhiều. Bạc tròn đời vua Thiệu Trị có 2 loại: Có lỗ vuông như tiền đồng và không có lỗ. Bạc tròn đúc ra vừa để lưu thông, nhưng cũng có thể dùng làm tiền thưởng. Bạc tròn đời vua Thiệu Trị có hai đặc điểm: có những hình tượng đẹp như con rồng bay lượn trên mây- long vân khế hội, nhật nguyệt tinh vân… Đồng bạc tròn Thiệu Trị được coi như là những tác phẩm nghệ thuật.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ III: Tiền đồng lớn

Vua Thiệu Trị (1841 - 1847) là vị hoàng đế thứ ba của triều Nguyễn. Trong thời gian trị vì, nhà vua tiếp nối chính sách của vua Minh Mạng, đồng thời có những cải cách riêng. Về tiền tệ, Thiệu Trị cho phát hành tiền đồng gọi là Thiệu Trị Thông Bảo. Loại tiền này được đúc bằng đồng, hình tròn, giữa có lỗ vuông theo truyền thống 'tiền cổ phương trung' của Á Đông, vừa thuận tiện xâu thành chuỗi, vừa mang ý nghĩa trời tròn đất vuông.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ II: Tiền đồng lớn

Khác với vua Minh Mệnh, tiền đời vua Thiệu Trị có các mỹ hiệu tán dương triều đại, nhưng không lưu thông, không dùng để ban thưởng mà chỉ để lưu trữ trong kho. Loại tiền này được đúc một đợt vào tháng 2 năm Bính Ngọ, năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Tất cả có một vạn đồng chia ra làm 40 thứ (17 thứ có mỹ hiệu 4 chữ, 23 thứ có mỹ hiệu 8 chữ).