Ở đâu có khổ đau, ở đó ta có mặt. Khi miền Trung đang oằn mình trong giông bão, chúng ta hướng về bằng tất cả tình thương và hành động.
Là chủ đề khóa tu Ngày an lạc lần thứ 69 do Ban Hoằng pháp GHPGVN TP.HCM tổ chức ngày 5-10, tại Việt Nam Quốc Tự (P.Hòa Hưng, TP.HCM).
Gìn giữ sáu căn (giác quan) là một trong những pháp tu quan trọng của Phật giáo. Sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) luôn hướng ngoại để nắm bắt sáu trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp).
NSGN - Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật ngụ bên hồ Yết-già (2), thuộc nước Chiêm-bà.
Trí tuệ phát sinh khi tam nghiệp được chính niệm soi sáng. Và ngược lại, có trí tuệ thì tam nghiệp hành xử một cách đúng đắn và chân thật.
Mười điều ác là ba điều ác của thân: sát sinh, trộm cướp, tà dâm; bốn điều ác của khẩu: vọng ngữ, nói lưỡi hai chiều, lời ác, lời thêu dệt; ba điều ác của ý: tham dục, sân giận, tà kiến.
Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Hy vọng những tiêu chuẩn đưa ra trong Vesak 2025 không chỉ là điểm sáng trong cuộc sống lý tưởng, Phật giáo toàn thế giới cần biến thành hiện thực để mỗi kỳ Vesak có thêm một bước tiến như những tố chất hữu ích cho nhân loại.
Tạm biệt chủ nghĩa hiệu suất không có nghĩa là từ bỏ đam mê, mà là chọn sống có tâm hơn với từng điều mình đang làm. Giữa dòng đời vội vã, một người biết dừng lại đúng lúc, cũng là một người đang đi xa hơn rất nhiều.
Người có bản lĩnh không phải là người không có bản năng, mà là người biết làm chủ bản thân, biết chuyển hóa bản năng thành trí tuệ và từ bi, để sống một đời an lạc và ý nghĩa.
Hạnh phúc không đến từ việc chấp nhận số phận, mà từ việc hiểu rõ mình thực sự muốn gì và dám bước đi trên con đường của chính mình.
Khổ đau không phải do cảnh, vì nếu do cảnh thì cảnh vô tri có tự tính là khổ đau; khổ đau không phải do tâm, vì nếu thế tâm cụ thể có bản ngã là khổ đau; nếu thật như vậy, tu không giải quyết được vấn đề.
Triết lý về độc cư trong Phật giáo không đơn thuần là sự tách biệt về mặt không gian mà quan trọng hơn, đó là trạng thái nội tâm thoát ly khỏi mọi ràng buộc của tham, sân, si.
NSGN - Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật ngụ tại vườn Cấp Cô Độc, trong rừng Kỳ-đà, thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: Có pháp thoái thất, pháp không thoái thất và sáu thắng xứ 2.
Hạnh phúc, theo quan điểm đạo Phật không phải là sự tìm kiếm bên ngoài, mà là hành trình trở về với chính mình, với sự thanh tịnh và giải thoát trong tâm hồn.
Tỉnh thức là nếp sống của người học Phật. Từ sự học, hiểu, hành lời Phật dạy về Bát chánh đạo, gìn giữ giới - định - tuệ trang nghiêm, với ý-khẩu-thân thanh tịnh, hành giả dần tỉnh thức trong đời sống, công việc, ứng xử trong các mối quan hệ…
Bảy phương pháp này là lộ trình toàn diện, từ việc nhận thức đúng đắn, kiểm soát giác quan, đến tu tập sâu sắc. Khi hành giả thực hành đầy đủ, chúng dẫn đến sự giải thoát khỏi mọi phiền não, đạt được trạng thái an lạc tối thượng – Niết bàn.
Đức Phật nói Tam thừa là Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát; vì trình độ, phước đức của mọi người không giống nhau, cho nên mỗi người tu tùy theo hoàn cảnh và phước đức của mình cho có kết quả tốt đẹp.
Muốn chuyển hóa cảm xúc thì chúng ta cần chuyển hóa nhận thức trước, đau khổ đơn thuần cũng chỉ là một trạng thái của tâm. Nhận thức đúng sẽ giúp chúng ta đạt được sự giải thoát sâu sắc này.
Nếu một vị niệm Phật, Pháp, Tăng nhưng niệm xả không được tương ưng, và không an trú vào thiện pháp, vị ấy vẫn sẽ bị dao động, bị cảm thấy bất an, bất hạnh, khổ đau mà không cảm thấy hoan hỷ.
Làm giàu chính đáng là việc khó đối với nhiều người. Nhưng khi khấm khá rồi mà biết an hưởng 'không phóng dật, không tham đắm, không tạo những ác hạnh đối với chúng sinh' lại càng khó khăn hơn.
Thế Tôn tuyên thuyết những phương pháp đoạn trừ phiền não, thực hành các pháp của bậc Chân nhân, tu tập các pháp của bậc Chân nhân, phát triển tuệ tri, như lý tác ý những pháp cần phải tác ý.
Người xuất gia mang trên mình một hoài bão lớn là hướng tâm đến giải thoát tự thân và giúp người khác giải thoát. Người xuất gia dấn thân trên đường đạo nguyện trau dồi công đức, làm lợi mình và lợi người.
Đầu đà (Sanskrit: Dhūtaguna, Pāli: Dhutanga) là nhóm phương pháp khổ hạnh mang tính chất tự nguyện trong Phật giáo, nhằm dứt trừ sự dính mắc, tham dục, phiền não.
'Tâm tịnh tức độ tịnh', vì thế, chuyển hóa tâm là một trong những vấn đề trọng yếu của tu tập.
Người thường ưu tư về thân phận luôn ám ảnh bởi câu hỏi ta từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Hầu như chẳng ai có ký ức lúc chào đời, chỉ nghe người thân kể lại rồi tha hồ tưởng tượng. Nhưng hình dung về cái chết của mình thì ai cũng có, tâm trạng mỗi người rất khác nhau.
Tâm lý học Phật giáo (Duy Biểu Học) cho rằng tâm ta có ít nhất là hai phần lớn: ý thức và tàng thức. Tàng thức là phần dưới của tâm, nơi chứa đựng các loại hạt giống của suy tư, cảm thọ.
Tứ nhiếp pháp là thiện pháp thù thắng hành trì trong đời sống để có thể giúp mình được an lạc, như người trồng hoa thơm trái ngọt dâng cho đời, bởi chính hạnh phúc của người khác mới chính là hạnh phúc đích thực lâu bền cho mình. Cho đi là sẽ nhận lại, như một chân lý hiển nhiên của luật nhân quả. Tứ nhiếp Pháp là nghệ thuật sống đẹp, đầy giá trị đạo đức bởi trong ấy đều là những điều nên làm đem lại lợi ích thành công cho chính mình, tốt đẹp cho gia đình và xã hội thêm văn minh, tiến bộ và phát triển
Bệnh đau là chuyện tất yếu của con người. Trừ những người có phước đức về sức khỏe sâu dày, còn lại hầu hết đều trải qua bệnh tật. Đau bệnh của con người có hai phần thân và tâm, có khi bao gồm cả hai nên gọi là thân đau tâm khổ. Khi tuổi đời tăng thêm thì đau bệnh sẽ nhiều lên theo quy luật sinh già bệnh chết.
Phật giáo cũng được phân ra thành hai cấp bậc chính là Tiểu thừa và Đại thừa, hiện giờ mọi người thường gọi là Nam truyền và Bắc truyền.
Chúng ta phải chuyển hóa được nghiệp nhân xấu ác, phải biết muốn ít, biết đủ, đó chính là nếp sống buông xả càng nhiều, thì thấy càng thoải mái, an bình tự tại hơn, khác xa với thói quen càng thu góp mọi sở hữu càng nhiều thì càng mệt mỏi, càng lo lắng, buồn phiền vì sợ mất mác. Nếu chúng ta buông bỏ đuợc tất cả những gì vướng mắc, ràng buộc nơi thân và trong tâm của chúng ta, thì có gì sung sướng hạnh phúc hơn.
Tập 'Tích truyện Pháp cú' này được dịch theo bản Anh ngữ 'Buddhist Legends' của học giả Eugène Watson Burlingame. Nhà học giả này đã căn cứ trên nguyên tác Pháp Cú Sớ Giải (Dhammapada Commentary) bằng tiếng Pàli.Tập 'Tích truyện Pháp cú' này được dịch theo bản Anh ngữ 'Buddhist Legends' của học giả Eugène Watson Burlingame. Nhà học giả này đã căn cứ trên nguyên tác Pháp Cú Sớ Giải (Dhammapada Commentary) bằng tiếng Pàli.
Canh chót đêm Rằm tháng Vesakhamāsa cách đây 2.613 năm, tại Đại cội Bồ Đề trong khu rừng Uruvela (nay gọi là Bodh Gaya xứ Ấn Độ), tỉnh Senanigama, đức Bồ Tát Siddhattha chứng đắc thành đức Phật Chính đẳng giác có danh hiệu là đức Phật Gotama.
Sự kiện Ðức Phật Ðản sinh là bức thông điệp hạnh phúc bước ra thế giới khổ đau, đánh thức sự hướng tâm vào thế giới an lạc của sự vận hành, xa rời sự chấp thủ và khát ái.
Chúng ta đều biết, đạo Phật là trung đạo. Đức Phật cũng nhờ tránh xa hai cực đoan dục lạc và khổ hạnh mà thành tựu đạo quả. Sau khi giác ngộ, trên bước đường hoằng hóa, Thế Tôn vẫn nêu cao lập trường trung đạo.
Như thế nào là chân tu? - Trên bước đường tu tập, hãy thường xuyên suy tư, tự phản chiếu xem lại mình mỗi ngày có phát triển giới hạnh, trí tuệ và thiền định hay không? Hay ngược lại tăng thêm tham dục, sân hận, và vô minh, tự ngã tràn đầy.
Tập 'Tích truyện Pháp cú' này được dịch theo bản Anh ngữ 'Buddhist Legends' của học giả Eugène Watson Burlingame. Nhà học giả này đã căn cứ trên nguyên tác Pháp Cú Sớ Giải (Dhammapada Commentary) bằng tiếng Pàli.Tập 'Tích truyện Pháp cú' này được dịch theo bản Anh ngữ 'Buddhist Legends' của học giả Eugène Watson Burlingame. Nhà học giả này đã căn cứ trên nguyên tác Pháp Cú Sớ Giải (Dhammapada Commentary) bằng tiếng Pàli.
Năm uẩn có thể được hiểu là toàn bộ sự sống của mỗi chúng sanh. Trong đó sắc uẩn thuộc về thân, còn lại thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn thuộc về tâm. Năm uẩn là một trong những giáo lý quan trọng hàng đầu của Phật giáo.
Từ việc tìm hiểu vấn đề xóa đói giảm nghèo theo quan điểm Phật giáo ta có thể thấy rằng: Mặc dù lý tưởng cao nhất của người tu Phật là buông bỏ để giải thoát. Nhưng trên hành trình buông bỏ ấy ngoài trí tuệ còn có từ bi. Có trí tuệ để thấy không có gì bám víu, có từ bi để thấy không ai nằm ngoài niềm thương của chính mình.
Kinh A-Hàm dạy: 'Bệnh sắc dục dùng bất tịnh trị'. Thực vậy, đứng trước sắc đẹp phụ nữ, khi tâm tham dục khởi, chúng ta phải dùng pháp quán thân bất tịnh để đối trị. Nghĩa là phải suy tư quán xét cho thấu đáo tất cả vạn hữu đều có sắc tướng bất tịnh, dễ ô nhiễm, sinh ra mùi hôi thúi ghê tởm, dù cho chúng có những sắc tướng khêu gợi, khiến cho tâm tham sắc dục dễ nổi lên cũng đều là bất tịnh.
Theo luật nhân quả, người nào dùng lời nói ác độc, thề thốt, đó là tự hại mình mà không biết, tưởng là nói như vậy là làm cho người ta sợ và bái phục.
Nhĩ căn viên thông là khả năng mà Bồ-tát Quán Thế Âm thành tựu được nhờ vào sự tu tập ba phương pháp lắng nghe, tư duy và hành động (Văn, Tư, Tu).