NSGN - Hãy quán sát thân. Quán sát tâm. Bạn đã hành thiền liên tục, nên dù tâm trí bạn chưa yên tĩnh, chưa đạt đến mức độ tập trung vững chắc như bạn mong muốn, thiền vẫn là một hoạt động thiện xảo trong việc phát triển niềm tin, phát triển sự kiên trì.
Thấy rõ vô thường, khổ và vô ngã không khiến đời sống trở nên u ám hay bi quan, mà trái lại, giúp con người buông bỏ những ảo tưởng vốn là nguồn gốc của khổ đau, từ đó sống tỉnh thức, nhẹ nhàng và tự tại hơn...
Qua những phân tích trên, có thể đi đến kết luận rằng, giữa triết lý 'Vô ngã' của Phật giáo và tinh thần 'chống chủ nghĩa cá nhân' trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một sự gặp gỡ triết lý sâu sắc và giàu ý nghĩa.
Lâu đài cát, một biểu tượng của sự vô thường, có thể tiết lộ cho chúng ta biết về bản chất tâm thức của chính mình.
Có thể ví, nếu nghiệp là mực, thì A-lại-da thức chính là tờ giấy. Không có giấy, mực chẳng thể bám; không có mực, giấy vẫn trống không.
Những yếu tố này không chỉ là học thuyết triết học, mà là pháp hành đưa đến sự đoạn trừ chấp ngã và đạt đến sự giải thoát. Nhận thức Vô ngã chính là cánh cửa mở ra Tuệ giác và Niết bàn.
Giáo lý Ngũ Uẩn mô tả con người là sự kết hợp của năm nhóm yếu tố vật chất và tâm lý luôn thay đổi: Sắc (cơ thể vật lý), Thọ (cảm giác), Tưởng (tri giác), Hành (ý chí, tâm sở), và Thức (nhận biết).
Thí Vô Úy Giả là một trong những Thánh hiệu của Đức Bồ-tát Quán Thế Âm. Vô úy có nghĩa là không sợ, thí vô úy giả là người hiến tặng năng lực không sợ hãi. Không run sợ, hết lo lắng là niềm an vui, hạnh phúc nhất trên đời, và người có năng lực giúp chúng ta an ổn, bất động trước mọi biến động của cuộc sống...
Dù là người hay máy, điều cốt yếu vẫn là khả năng chuyển hóa khổ đau thành trí tuệ và từ bi, để sự sáng tạo không chỉ mở rộng tri thức, mà còn thắp sáng tâm linh
Pháp là phương tiện đưa đến giải thoát, chứ không phải cứu cánh để nắm giữ.
Buông được từng viên đá trong lòng, ngọn cỏ tâm sẽ vươn lên thảnh thơi trong nắng gió.
Khi đã tự giải thoát, thường trụ trong chân lý không sinh không diệt mà nhìn ra để giúp đỡ cuộc đời thì cũng thấy có sinh có diệt, có đến có đi, nhưng cái sinh diệt đến đi này là sinh diệt đến đi trong tính Không, trong như huyễn.
NSGN - Chùa Burapha, nơi Luang Pu trải qua mỗi kỳ an cư trong hơn 50 năm, nằm ở trung tâm thị trấn Surin, ngay trước văn phòng tỉnh và cạnh tòa án tỉnh. Vì lý do này, tiếng ồn của xe hơi và xe tải liên tục làm xáo trộn sự yên bình và tĩnh lặng của tu viện.
NSGN - Bản phiên dịch Phạn - Việt này được tạo thành cho lớp bồi dưỡng tiếng Phạn tại Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM khoảng vào năm 2018. Phần Sanskrit vốn dựa vào thủ bản được cất giữ tại ngôi chùa cổ Hōryuji ở thành phố Nara Nhật Bản, được hiệu chính lần đầu bởi cố học giả Nakamura Hajime (1) .
NSGN - Sau lễ khai trương Bảo tàng Phra Ajaan Mun, Luang Pu đã đi xa hơn để thăm Trưởng lão Ajaan Funn tại động Khaam Cave. Vào thời đó, các xe lớn không thể đi xa hơn chân đồi nơi có hang động, nghĩa là Luang Pu phải leo một quãng đường dài lên đồi.
Đạo Phật nhìn con người như một tổng hòa thân-tâm vận động trong từng sát-na, không dừng nghỉ, không thực chất, nhưng đầy tiềm năng chuyển hóa. Ngũ uẩn là bản đồ thân-tâm, giúp người tu nhìn thấy rõ nơi sinh khởi của chấp thủ, nơi bám víu khổ đau phát xuất.
Người học Phật ai cũng biết đa văn là hạnh nghe nhiều, hiểu biết Phật pháp sâu rộng, thông tỏ nghĩa lý.
Tâm thức là dòng chảy ý niệm tiếp nối từ đời này sang đời khác, và chính nghiệp những hành động thiện ác của con người, là yếu tố dẫn dắt và định hướng cho tâm thức ấy tái sinh.
Có hợp thì có tan, có sinh ắt có tử. Biết rằng là thế, nhưng mỗi chúng ta đang hiện diện đây, bằng tâm nào để nhìn cuộc đời, dùng mắt nào để nhận thức về thân này? Làm thế nào để có thể an nhiên trước cảnh hợp tan, sinh tử?
Việc tích hợp AI vào giáo dục tôn giáo là một ví dụ rõ ràng về vai trò ngày càng phát triển của công nghệ trong các hoạt động tâm linh
Trong các pháp thoại hay giao tiếp hàng ngày, Thế Tôn thường nói lời ái ngữ, phạm âm. Tuy nhiên, một vài trường hợp Ngài nghiêm khắc răn dạy, quở trách nặng nề: 'Các ông là người ngu, si mê, vô trí'.
Thông thường, Đức Phật thuyết pháp cho con người nhưng có một vài trường hợp Ngài thuyết pháp cho chư thiên. Kinh điển ghi thường thì chư thiên đến vấn đạo vào canh cuối, lúc gần sáng.
Tu hành chứng đạo mà thân đau ốm cũng là chuyện bình thường. Đức Phật cũng đôi lần bị bệnh đau, hoạn nạn. Các Tỳ-kheo đang tu học thì bệnh nghiệp, bệnh do thời tiết cũng ốm đau la liệt. Tôn giả Tu-bồ-đề, bậc đệ nhất Giải Không cũng không ngoại lệ.
Học pháp, hành pháp và thuyết pháp là nhiệm vụ quan trọng của hàng đệ tử Phật. Không chỉ hàng xuất gia mà các đệ tử tại gia cũng luôn thuyết giảng, chia sẻ và luận đàm giáo pháp.
Ngày nay, nhờ vào công nghệ hiện đại, quá trình dịch thuật kinh điển có thể tận dụng trí tuệ nhân tạo để so sánh nhiều văn bản khác nhau, giúp nhận diện sự khác biệt giữa các dị bản; giữ nguyên các thuật ngữ quan trọng như anatta, dukkha,…
NSGN - Nỗi khổ của bạn chính là nỗi khổ của chúng sanh. Có thể bạn còn khổ đau nhưng khổ đau của bạn không vô ích.
Phủ định hay già thuyên trong kinh Bát-nhã có mục đích là một lối nói mang tính ngăn chặn cốt làm cho chúng ta hiểu được hiện tượng duyên khởi đồng thời cũng hiển thị đúng tính chất của hiện tượng duyên khởi.
Hộ niệm hay giáo hóa cho người bệnh sắp chết là pháp hành quan trọng và phổ biến trong thời đại Thế Tôn. Pháp tu này hiện vẫn đang được Tăng, Ni và Phật tử thực hành, góp phần hỗ trợ tích cực cho người hấp hối được sinh về cõi lành, thậm chí có thể chứng đắc Niết-bàn, giải thoát tối hậu.
Thiện nam, thiện nữ không chỉ thọ trì kinh Pháp Hoa dũng mãnh, tinh tấn mà còn thực hành 6 pháp Ba la mật, bố thí, trì giới nghiêm chỉnh, nhẫn nhục, thiền định, quán sát trí tuệ, công đức này thù thắng vô biên.
Lời dạy của đức Phật nhắc nhở chúng ta về mục tiêu tối thượng của đời người: thoát khổ.
Già bệnh là một sự thật của thân này, ai rồi cũng phải trải qua. Hiếm hoi mới có người già mà ít hay không bệnh. Vấn đề là, làm sao khi thân già bệnh mà tâm bớt khổ hoặc không khổ?
Thiền sư Ajaan Fuang Jotiko, sinh năm 1915 tại tỉnh Chanthaburi, Đông Nam Thái Lan (gần biên giới Campuchia). Mồ côi năm 11 tuổi, ông sống ở nhiều chùa, cho đến năm 20 tuổi được thọ giới xuất gia, về sau trở thành một thiền sư lớn (theo truyền thống tu tập trong rừng) ở Thái Lan.
Ngoài các liệu pháp điều trị thuộc về tâm lý học Phật giáo thì tiến trình hoạt động điều trị bệnh cũng phải tuân theo các chỉ định từ bác sĩ chuyên môn, kết hợp các dược liệu đúng liều lượng, cân nhắc đối với các thuốc giả thuốc chứa các chất độc hại nguy hiểm cho con người,...
Thời đó, khoa học chưa phát triển, máy móc còn thô sơ nhưng họ hướng tới sự tìm tòi thế giới, bản tính con người một cách sâu sắc. Phật pháp ở thế gian, không xa sự giác ngộ của thế gian, tuy hai nền triết học khác nhau nhưng đều chung tư tưởng giúp con người lìa khổ, thoát khổ.
Những giáo lý quý báu của đức Phật không chỉ cung cấp các phương pháp thực dụng để trị liệu và chữa lành những nỗi khổ niềm đau và thúc đẩy hạnh phúc mà còn có thể giúp giải quyết các vấn đề đương đại phát sinh từ sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ.
Nếu không phá bỏ ngã chấp, sẽ không thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Tâm Kinh dạy 'Ngũ uẩn đều không, độ tất cả khổ ách', tức là chúng ta phải buông bỏ chấp ngã, bởi chấp ngã tạo nghiệp, và nghiệp là nguyên nhân của sinh tử.
Ngũ uẩn là căn bản xuất phát của muôn sự muôn vật. Đức Phật cũng là một con người được cấu thành bởi năm uẩn như tất cả chúng sinh, nhưng với sự liễu tri về thực tại của chính bản thân mình nên Ngài đã từ bỏ lối sống hưởng thụ thỏa mãn mọi nhu cầu cho thân ngũ uẩn cũng như từ bỏ sự tu tập khổ hạnh hành hạ thân ngũ uẩn
Người thường ưu tư về thân phận luôn ám ảnh bởi câu hỏi ta từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Hầu như chẳng ai có ký ức lúc chào đời, chỉ nghe người thân kể lại rồi tha hồ tưởng tượng. Nhưng hình dung về cái chết của mình thì ai cũng có, tâm trạng mỗi người rất khác nhau.
Nhưng khổ đau lớn nhất của con người không phải do già bệnh mà do chấp thủ thân này là tôi, là của tôi và tự ngã của tôi. Thực ra, chẳng có gì trong bốn đại và năm uẩn này đích thực là tôi cả.
Mật giáo nói: Phật thể hiện phương tiện độ sinh của Ngài bằng vào uy lực gia trì. Gia trì về ba phương diện, mà thuật ngữ gọi là 'tam mật du-già', tương xứng theo ba hành nghiệp của một chúng sinh: thân, miệng và ý.
Những nguy hiểm mà tâm phải đối mặt giống như rắn, lửa và trộm - chúng ngày đêm rình rập để gây tai họa cho ta: cướp của ta, giết chết ta và tước đoạt của cải quý giá, phẩm hạnh của ta.
Trải qua thời gian thân này bị già là sự thật tất yếu. Già suy thì bệnh tật phát sinh cũng là tất nhiên. Ai rồi cũng như vậy, mọi sự vật hiện tượng đều như thế. Vậy thì chấp nhận sẽ an yên hơn chạy trốn hay chối bỏ hoặc lo sầu.
Phật dạy có trí tuệ mà không có từ bi là càn tuệ tức trí tuệ khô. Vì vậy trí tuệ phải có từ bi thì trí tuệ ấy mới tươi nhuần. Còn từ bi mà thiếu trí tuệ thì gọi là từ bi mù, nên chúng ta tu Phật phải có đủ từ bi và trí tuệ. Bởi vì có trí tuệ rồi chẳng lẽ ngồi không, ai khổ mặc họ không cần biết đến ? Như vậy là ích kỷ, không có lợi ích gì cả. Cho nên người tu phải phát tâm từ bi, chúng sinh tuy hư giả nhưng lại không biết hư giả. Vì vậy họ khổ, chúng ta phải thương, phải cứu họ, làm cho họ hết khổ. Như vậy nhờ trí tuệ phá kiến chấp sai lầm, phá ngu muội tăm tối. Nhờ lòng từ bi thương người mê lầm, ta chỉ cho họ thấy được lẽ thật, không còn chấp, không còn đau khổ nữa. Đó mới gọi là làm tròn bổn phận người tu.
NSGN - Phá thai là một vấn đề đã có từ xa xưa và trở thành một đề tài gây tranh luận gay gắt trong nhiều lĩnh vực khác nhau như đạo đức, chính trị và tôn giáo.
Giải thoát hàm ý là cởi bỏ được sự trói buộc của phiền não mà vượt thoát khỏi thế giới mê muội khổ đau, nên cũng gọi là Độ thoát, Đắc thoát....
Bình-sa vương vốn là một Phật tử thuần thành, ông rất quý kính Đức Phật và thích nghe giáo pháp của Ngài. Tuy nhiên, thứ phi Khema của vua thì trái lại, bà rất sợ gặp Đức Phật. Bởi vì đối với Thế Tôn, sắc là họa hoạn, là vô thường, là khổ… mà bà thì rất có sắc.
Giáo lý Vô ngã (vô tự tính) đầu tiên được Đức Phật nói cho năm anh em ông Kiều-trần-như tại Vườn Nai trong kinh Vô ngã tướng (Anatta Lakkhana Sutta), bài kinh thứ hai sau kinh Chuyển pháp luân. Nghe xong pháp thoại, năm anh em ông Kiều-trần-như đã chứng đắc A-la-hán.
Hòa thượng pháp danh Tâm Nguyện, thế danh là Phạm Văn Quý, sinh ngày 23 tháng chạp năm Bính Thìn (16-1-1917) tại xã Bình Nghĩa, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ngài là con thứ ba trong một gia đình Nho giáo. Thân phụ là cụ đồ Phạm Đình Giá, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Ấm.