Những ngày tháng 10, mưa giăng đầy trời, lòng người cũng thường hoài niệm về quá khứ. Đội Văn nghệ Thị đội Cà Mau năm xưa, những cựu chiến binh tuổi quá lục tuần lại quây quần bên nhau cùng hát, múa, tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh.
Tối 24/4, tại huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ đón bằng Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Bến Vàm Lũng (thuộc tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển).
Bến Tre là quê hương Đồng Khởi – nơi lưu dấu, khắc sâu những chiến công oanh liệt, những tấm gương Anh hùng, những địa danh lịch sử đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu kiên cường.
Tôi muốn mượn lời bài hát 'Câu hò bên bờ Hiền Lương' của Nhạc sĩ Hoàng Hiệp (Đằng Giao cùng viết lời) để kể câu chuyện về những người phụ nữ trong hoàn cảnh đất nước chia cắt sau Hiệp định Giơnevơ mà phận đời của họ gắn liền sự kiện tập kết năm 1954, với sự hy sinh âm thầm và tấm lòng sắt son, chung thủy.
Cách đây trên 200 năm, làng Hưng Thái (xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền) đã ra đời với những thăng trầm của lịch sử quê hương, đất nước.
Tôi thực sự ngỡ ngàng, xúc động và cảm phục khi lần đầu tiên đến Khu Du lịch sinh thái Làng rừng Cà Mau (ECO), ấp Vồ Dơi, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời. Làng rừng là sự kiện độc đáo của Ðảng bộ, quân và dân tỉnh Cà Mau trước ngày Ðồng khởi 1960, thế kỷ XX. Làng rừng thể hiện tinh thần quật khởi, là thái độ bất khuất trước quân thù tàn bạo với ý chí 'Thà hy sinh tất cả, quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ!'. Nơi đây đã được công nhận Di tích Lịch sử cấp quốc gia.
Anh Lê Toàn Thư là một nhân chứng lịch sử. Cuộc đời của người cộng sản kiên trung đó trải dài suốt thời kỳ nhân dân ta chuẩn bị và vùng lên giành độc lập dân tộc, qua Cách mạng tháng Tám, hai cuộc kháng chiến gian khổ và thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Côn Đảo - địa ngục trần gian và Luật 10/59 không thể làm lay chuyển ý chí bất khuất của người cộng sản kiên trung đó.
Ngày 30/4/1975, tin giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam nhanh chóng vang dội. Khi ấy, tôi đang dạy ở Trường Nội trú học sinh miền Nam Ðông Triều (Quảng Ninh), cả thầy cô và học trò hét vang chiều đó. Tất cả không màng việc ăn uống và cứ thế thau, chậu, nồi nhôm được làm trống gõ, hò hát thâu đêm. Vui, ôm nhau cười, khóc.
Sau Tết Tân Hợi 1971 nửa tháng thì tôi nhận được thư nhà. Thế là bao nhiêu mong ngóng, đợi chờ tin tức từ gia đình, quê hương rồi ngày vui cũng đến. Nhưng linh cảm như có điều gì không bình thường, vì thư là của bà thím viết, không phải của cha mình như mọi khi. Vội vàng tìm chỗ vắng người, tôi bóc thư ra. Ngay dòng đầu tiên, thím viết... 'Cha của con bị giặc giết rồi!'.Tôi không thể bình tĩnh để đọc tiếp được nữa, dù thư thím viết rất ngắn. Sau hồi lâu, nén lòng, tôi lướt qua những dòng mực tím trên giấy học trò, trong thư thím chỉ nói ngày tháng cha tôi bị nạn và ông đã bị giặc giết như thế nào đúng vào sáng 30 tháng Chạp năm Canh Tuất. Còn nhớ, thư của thím viết ngay hôm mùng 1 Tết Tân Hợi, nhưng mãi đến nửa tháng sau, tôi mới nhận được, dù từ quê tôi (huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) đến nơi công tác (huyện Kông Chro) chỉ chừng 2 giờ xe chạy tính theo thời nay. Đêm khuya hôm ấy, anh chị em trong cơ quan tôi đã chìm vào giấc ngủ say, giữa rừng già hiu quạnh, cái rét rừng như cứa thêm vào da thịt cậu nhân viên trẻ vừa nhận được hung tin. Trong lán nhỏ, đống lửa sưởi ấm đã sắp tàn, đầu óc tôi cứ lan man nghĩ về người cha đã ra đi trong ngày vui của dân tộc-đón chào năm mới-để lại nỗi đau cho người thân, gia đình, đặc biệt là 2 đứa con trai mà ông luôn dành tình cảm yêu thương, lo lắng cho dù ông không bên cạnh hàng ngày.
Có người kết nạp Đảng trong chiến khu, có người kết nạp Đảng trong tù, có người lại ở khu di tích lịch sử… nhưng đối với mỗi đảng viên, dù kết nạp ở đâu, trong hoàn cảnh nào thì đó cũng là dấu mốc không thể nào quên trong cuộc đời.