Beta

Sức mạnh lớn lao của dân tộc

Trong dặm dài lịch sử, sức mạnh lớn lao của dân tộc không chỉ đến từ khí tài quân sự, mà còn từ tinh thần anh dũng, lãng mạn cách mạng. Đôi khi, một câu nói, một bài thơ, một lời hát cũng chứa sức mạnh cổ vũ tinh thần rất lớn. Làm văn nghệ cũng coi như một binh chủng là vậy.

Trào sôi nhịp sống giữa chiến hào

Có thời đại âm nhạc, thơ ca... không xuất hiện trong các phòng nghệ thuật trang trọng, tĩnh lặng mà trào sôi nhịp sống ngay giữa chiến hào. Trong phim tài liệu Việt Nam trên đường thắng lợi (thực hiện năm 1954, phát hành năm 1955) của cố đạo diễn người Liên Xô Roman Karmen, có đoạn một chàng trai say sưa kéo đàn violin phục vụ chiến sĩ trong giờ giải lao tại chiến trường Điện Biên Phủ. Ấy là nhạc sĩ Doãn Nho, khi đó mới 21 tuổi, công tác tại Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị.

Nhớ về ký ức cùng chiến sĩ ra trận, nhạc sĩ Doãn Nho kể: trong Đại đoàn 308 bấy giờ, lính của chúng ta từ cán bộ đến chiến sĩ chủ yếu là những nông dân Đồng bằng sông Hồng. "Cho nên khi đạo diễn ghi hình về Chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi chọn bài “Cò lả”. Con cò cò bay lả lả bay la/ Bay từ là từ cửa phủ bay ra là ra cánh đồng/ Tình tính tang là tang tính tình/ Anh chàng rằng: anh chàng ơi/ Rằng có nhớ nhớ hay không? Các chiến sĩ ngồi nghe như thả tâm hồn của mình theo tiếng đàn. Để thấy rằng vai trò của văn hóa, văn nghệ thời chiến rất quan trọng. Không thể kể hết được đóng góp của văn nghệ sĩ trong và ngoài quân đội vào cuộc kháng chiến”.

Có thời đại âm nhạc, thơ ca... không xuất hiện trong các khán phòng trang trọng, tĩnh lặng mà trào sôi nhịp sống ngay giữa chiến hào. Nguồn: TH

Có thời đại âm nhạc, thơ ca... không xuất hiện trong các khán phòng trang trọng, tĩnh lặng mà trào sôi nhịp sống ngay giữa chiến hào. Nguồn: TH

Thượng tá, NSƯT Nguyễn Thế Phiệt, Trưởng Đoàn Nghệ thuật Chèo, Tổng cục Hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ nhớ lại, ngoài tiết mục ca hát, động viên chiến sĩ, có những vở chèo ngắn hấp dẫn, đặc biệt chiến sĩ Trường Sơn rất thích. Như Anh lái xe và cô chống lầy, Bà sư và cô thủ kho, Sang sông, Đường về trận địa, Chuyến đò sông Mã… là những tiết mục ngắn, khôi hài, làm cho bộ đội phấn khởi.

“Các giai điệu dí dỏm, vui tươi cứ thế vang lên rất nhiều lần tại các binh trạm của đường Trường Sơn vào những năm tháng kháng chiến chống Mỹ. Thời kỳ đó, phong trào Tiếng hát át tiếng bom trở thành một điểm sáng trong hoạt động văn hóa, văn nghệ”, Thượng tá, NSƯT Nguyễn Thế Phiệt kể.

Nguồn động viên tinh thần rất lớn

Trong năm tháng khói lửa, khẩu hiệu "Tiếng hát át tiếng bom" không chỉ là lời hô hào mang tính phong trào hay khẩu hiệu suông. Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên Quyền Tư lệnh Quân khu 2 đúc kết: “Nếu chiến đấu chỉ có nghe tiếng súng không thì khô lắm. Có tiếng hát là động viên tinh thần bộ đội rất lớn”.

NSND Quang Thọ nhiều lần kể về ngày tháng mà ông cho là “may mắn” hành quân vào chiến trường, những năm 1971, 1972, thời điểm ác liệt của chiến tranh chống Mỹ. Ngày đó, chàng thanh niên 24 tuổi Quang Thọ đi cùng đoàn văn công xung kích tỉnh Quảng Ninh. Hành trang là ba lô con cóc, súng trường và cây đàn guitar. Thời điểm đó có đi mới thấy, trong thời khắc giữa sự sống và cái chết, bộ đội ta vẫn lạc quan, yêu tiếng hát. Tiếng hát thực sự có ý nghĩa, giúp họ vượt qua những ám ảnh chết chóc để ra trận.

“Lúc đó trên đường Trường Sơn như ngày hội. Chúng tôi hát cho thanh niên xung phong, cho bộ đội nghe. Họ nghe say sưa và quên cả chiến tranh đang cận kề. Ngày đó, tâm thế lên đường không biết có ngày trở lại, nên mọi người thương yêu, chia sẻ với nhau. Tôi hát những bài về đường Trường Sơn anh hùng, tạo khí thế cho anh em bộ đội. Đi mới hiểu được tiếng hát thúc giục người lính cầm súng ra trận như thế nào”, NSND Quang Thọ nhớ lại.

Ở tuổi 90, Trung tá Ngô Thị Ngọc Diệp không quên những ngày tháng hào hùng nơi chiến trường Điện Biên Phủ, những buổi biểu diễn không sân khấu, không đèn đóm, chỉ có bãi cỏ và bộ đội là khán giả… Tháng 12/1953, vừa bước vào tuổi 17 rực rỡ thanh xuân, cô gái Hà Nội Ngô Thị Ngọc Diệp theo Đoàn văn công Đại đoàn quân Tiên phong (nay là Sư đoàn 308). Các chặng nghỉ dài trên đường hành quân là lúc bộ đội vui nhất, vì được xem nhiều tiết mục, thích hơn cả là xem văn công diễn kịch. Bộ đội dọn bãi cỏ, ngồi vây xung quanh tạo thành một “sân khấu tưởng tượng”. Trên “sân khấu” giữa rừng, những kịch bản vốn chỉ có vài gạch đầu dòng lại trở nên vô cùng sống động và đi vào lòng người.

Những chiến sĩ văn công thời đó hầu hết không được đào tạo bài bản mà được lựa chọn vì có năng khiếu. Thế nhưng ai nấy nhập tâm, biểu diễn bằng cảm xúc chân thật, mong đem đến những khoảnh khắc lạc quan, vui vẻ, phấn chấn, át đi cái nhọc nhằn, gian khổ, ác liệt của bom đạn chiến tranh. "Có ở trong hoàn cảnh ấy mới hiểu, một câu nói, một bài thơ, một lời hát cũng chứa sức mạnh cổ vũ tinh thần rất lớn. Làm văn nghệ cũng coi như một binh chủng là vậy”, bà Diệp giải thích.

"Tất cả đều vì thống nhất non sông"

Ngoài văn công, ở Trường Sơn còn có đội ngũ sáng tác hùng hậu. Sức mạnh nghệ thuật bật lên từ chính hiện thực khốc liệt. Nhạc sĩ Đào Hữu Thi, được mệnh danh là người kể chuyện Trường Sơn bằng âm nhạc, nhiều lần kể về cơ duyên cho những sáng tác của ông. Những ca khúc như Đường Trường Sơn trăm ngả, Những mùa trăng chờ mong… ra đời trong lúc cuộc chiến giữa ta và địch đến hồi ác liệt, cam go nhất. “Là một nghệ sĩ cầm súng, tôi cố gắng kể câu chuyện về chiến trường một cách chân thực, sinh động, với những niềm vui, nỗi buồn cũng như tình cảm của người lính. Sự hy sinh, gian khổ trong những năm tháng chiến đấu chẳng tác phẩm âm nhạc nào có thể nói hết được. Nhưng người trực tiếp sống, chiến đấu ở chiến trường có thể cảm nhận được: từ nơi bom rơi đạn nổ, tưởng chỉ có máu và nước mắt, vẫn ngời sáng nụ cười”.

Đội ngũ viết nhạc, làm thơ, vẽ tranh... "từ Trường Sơn sinh ra" có Phạm Tiến Duật, Lê Lựu, Lê Minh Khuê, Khuất Quang Thụy, Phạm Hoa, Trần Nhương, Nguyễn Thụy Kha, Quang Chuyền, Trọng Khoát (văn, thơ), Hoàng Đình Tài, Đức Dụ, Bùi Quang Ánh... (họa sĩ), Hoàng Kim Đáng, Vương Hồng... (nhiếp ảnh). Nhiều tác phẩm ra đời, được truyền tay nhau, trở thành nguồn động lực to lớn cổ vũ tinh thần, giúp bộ đội vững tin chiến đấu.

Ôi tất cả đều hướng về Tổ quốc!/ Tất cả đều vì thống nhất non sông. Nhà văn Phùng Văn Khai đúc kết khí chất hào hùng, lãng mạn cách mạng ấy bằng những vần thơ. Theo ông, từ nhận thức và định hướng chiến lược về vai trò của văn hóa, văn học nghệ thuật với đời sống tinh thần của bộ đội và nhân dân trong kháng chiến, nhiều hoạt động trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ đã được tiến hành. Một số thiết chế văn hóa từ cấp đại đội đến cấp trung đoàn, đại đoàn, quân khu và toàn quân đã được đặt ra và thực hiện. Hoạt động sinh hoạt văn hóa văn nghệ sinh động, hấp dẫn, thu hút bộ đội đã được tổ chức thường xuyên... Tất cả mang đến giá trị tinh thần lớn lao, thôi thúc hàng triệu người hăng hái chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc.

Những giá trị ấy không mất đi trong thời bình mà tiếp tục chảy ngầm trong mạch đập Tổ quốc hôm nay, để bồi đắp tinh thần, bản lĩnh người Việt Nam xây dựng đất nước trong thời đại mới.

Hải Đường

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/suc-manh-lon-lao-cua-dan-toc-10415416.html