Những đóa hoa trong lòng đá
Họ đã nằm lại nơi cửa hang lạnh lẽo để viết nên dòng huyết thư tự do cho Tổ quốc, để lại một nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng người ở lại.
Giữa những ngày tháng Tư lịch sử, khi cả nước đang hướng về ngày hội thống nhất, tôi tìm về hang Co Phương (xã Phú Lệ, tỉnh Thanh Hóa), trong tiếng gió đại ngàn xào xạc, câu chuyện về 11 dân công hỏa tuyến hy sinh năm nào hiện về như một khúc ca đầy bi tráng.
Từ lũy tre làng đến tuyến lửa miền Tây
Mùa xuân năm 1953, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn cam go nhất, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, hơn 130 thanh niên ưu tú của huyện Thiệu Hóa cũ, tỉnh Thanh Hóa, đã hăng hái lên đường. Họ rời bỏ lũy tre làng, rời bỏ những bến nước con đò bên dòng sông Chu để gia nhập đội quân dân công hỏa tuyến. Với đôi chân trần và ý chí sắt đá, họ xuyên rừng, vượt dốc, gánh trên vai trọng trách chi viện cho chiến trường Thượng Lào và Tây Bắc.

Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ trong Khu Di tích lịch sử cách mạng hang Co Phương.
Trong đoàn quân ấy, có 11 chàng trai, cô gái độ tuổi đôi mươi được biên chế vào một tiểu đội. Họ là những người con của đất Thiệu Nguyên cũ (nay là xã Thiệu Hóa). Ngày ra đi, họ mang theo niềm tin giản đơn là góp một sức mình cho kháng chiến thành công. Nhiệm vụ của họ là đắp đường, sửa cầu tại khu vực Phú Lệ - nơi vách đá cheo leo, nơi mỗi mét đường được mở ra đều thấm đẫm mồ hôi và cả máu xương.
Hang Co Phương (tiếng Thái là hang Cây Khế) ngày ấy là nhà, là nơi trú ẩn duy nhất giúp họ tránh những đợt oanh tạc của kẻ thù. Ban đêm họ miệt mài gánh đá, đào đất dưới ánh hỏa châu; ban ngày, lòng hang tối tăm, ẩm ướt là nơi họ chia nhau mẩu sắn lùi, kể cho nhau nghe về ước mơ ngày hòa bình.
Chiều ngày 2/4/1953, sau những vòng lượn trinh sát, máy bay Pháp bất ngờ dội bom dữ dội xuống bản Sại. Cả vùng núi rừng Phú Lệ rung chuyển trong tiếng nổ chát chúa. Đúng lúc ấy, tiểu đội dân công đang nghỉ ngơi trong hang Co Phương.
Chỉ trong tích tắc, một khối đá khổng lồ hàng chục tấn đổ ập xuống, bịt kín lối ra duy nhất của hang. Những người ở bên ngoài, trong đó có bà Nguyễn Thị Ngọt, người em út của tiểu đội chỉ biết gào thét trong tuyệt vọng. Bộ đội công binh và dân bản đã được huy động tối đa, nhưng giữa thời điểm chiến tranh thiếu thốn, không một máy móc nào có thể xoay chuyển được định mệnh nghiệt ngã ấy.
11 con người bị vùi lấp sau vách đá. Họ đã ra đi trong tư thế của người chiến sĩ, hiến dâng tuổi thanh xuân đẹp nhất cho mạch máu giao thông của chiến dịch không bị đứt đoạn. Tên tuổi của các liệt sĩ: Nguyễn Chi Hoằng, Nguyễn Dụng Phước, Nguyễn Chí Toàn, Nguyễn Thị Diễu, Nguyễn Thị Hội... đã hòa vào đá núi, hóa thành linh hồn của đại ngàn Phú Lệ.
Lịch sử và nén tâm nhang của hậu thế
Hòa bình lập lại, cuộc tìm kiếm và công nhận danh hiệu cho các anh hùng, liệt sĩ hang Co Phương là một hành trình dài của lòng tri ân. Đến năm 1989, sau nhiều nỗ lực của thân nhân và chính quyền, 11 dân công hỏa tuyến chính thức được Nhà nước công nhận là liệt sĩ.
Ông Nguyễn Dụng Khiên, con trai liệt sĩ Nguyễn Dụng Phước, chia sẻ trong xúc động: “Cha tôi và các đồng đội đã chọn ở lại với hang Co Phương. Chúng tôi không đưa các cụ về nghĩa trang quê nhà, vì ở đó, họ mãi mãi có nhau, mãi mãi là một tiểu đội không bao giờ tan hàng”. Sự lựa chọn ấy của thân nhân các gia đình liệt sĩ càng làm tô đậm thêm tính nhân văn và sự gắn kết bền chặt giữa những người đồng chí, đồng đội.
Hôm nay, đứng trước hang Co Phương, ta không chỉ thấy một di tích lịch sử, mà còn thấy một biểu tượng của lòng yêu nước nồng nàn. Những cái tên khắc trên bia đá có thể mờ đi theo sương gió, nhưng công lao của họ đã được tạc vào sử sách. Họ là minh chứng sống động nhất cho chân lý không có chiến thắng nào không có mất mát, không có vinh quang nào không đổi bằng máu xương.
Tháng Tư năm nay, nắng vàng rực rỡ trên những công trình mới của Thanh Hóa. Câu chuyện về bà "Út Ngọt" người cả đời đau đáu với tiếng gọi đồng đội, hay nén tâm nhang của ông Khiên là bài học giáo dục truyền thống sâu sắc với thế hệ trẻ.
Công lao của 11 liệt sĩ dân công hỏa tuyến năm xưa là một phần quan trọng tạo nên "vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng" Điện Biên Phủ. Sự hy sinh của họ đã bảo vệ cho những chuyến hàng lên phía trước, cho độc lập dân tộc được vẹn tròn. Khắc ghi công ơn ấy, chúng ta những người đang thụ hưởng thành quả của hòa bình hiểu rằng mỗi bước đường ta đi, mỗi tấc đất ta ở đều mang hơi ấm của những người đã ngã xuống.
Hang Co Phương chiều nay gió vẫn thổi nhẹ. Trong sự u tịch của núi rừng, dường như vẫn còn đâu đây tiếng cười nói của tiểu đội dân công năm ấy. Họ không mất đi, họ chỉ đang ngủ một giấc dài trong lòng đất mẹ, để trông giữ cho quê hương mãi mãi xanh tươi. Khúc tráng ca Co Phương sẽ còn vang vọng mãi, như một lời nhắc nhở về một thời rực lửa, về những con người đã sống và hi sinh vì hai chữ Tổ quốc.
Nguồn Công Lý: https://congly.vn/nhung-doa-hoa-trong-long-da-520684.html











