Beta

Giữ tàu cá không 'đi lạc'

Những năm gần đây, tình hình khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) trên vùng biển nước ta diễn biến phức tạp. Đặc biệt, tình trạng một số tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài do áp lực mưu sinh và hạn chế về nhận thức pháp luật đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có giải pháp quản lý hiệu quả, bền vững. Từ thực tiễn đó, mô hình 'Cán bộ, đảng viên phụ trách phương tiện có nguy cơ cao vi phạm khi đánh bắt ở vùng biển nước ngoài' đã được Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng triển khai với cách làm bài bản, khoa học, gắn trách nhiệm với từng con người, từng phương tiện.

Đồn Biên phòng Tân Thành tặng cờ Tổ quốc, áo phao cho ngư dân. Ảnh: Văn Hoàn

Đồn Biên phòng Tân Thành tặng cờ Tổ quốc, áo phao cho ngư dân. Ảnh: Văn Hoàn

“Một cán bộ-một phương tiện”

Điểm xuất phát của mô hình là việc rà soát, phân loại chính xác các phương tiện có nguy cơ cao vi phạm. Đây thường là những tàu cá có công suất lớn, hoạt động dài ngày trên biển, từng có tiền sử vi phạm hoặc có dấu hiệu tiệm cận các vùng ranh giới nhạy cảm. Bên cạnh đó, yếu tố kinh tế, hoàn cảnh gia đình, trình độ nhận thức của chủ tàu, thuyền trưởng cũng được đưa vào đánh giá tổng thể. Trên cơ sở đó, từng cán bộ, đảng viên đồn Biên phòng được phân công phụ trách cụ thể từng phương tiện. Việc phân công được gắn với trách nhiệm chính trị rõ ràng. Mỗi cán bộ phải nắm chắc hồ sơ, đặc điểm hoạt động, mối quan hệ xã hội và cả tâm tư, nguyện vọng của chủ tàu mà mình phụ trách. Chính việc “định danh đúng đối tượng” đã giúp công tác quản lý chuyển từ diện rộng, dàn trải sang tập trung, có trọng tâm, trọng điểm.

Cốt lõi của mô hình là “Một cán bộ-một phương tiện” hoặc một nhóm phương tiện, qua đó thiết lập mối quan hệ trực tiếp, thường xuyên giữa lực lượng chức năng với ngư dân. Không còn là những buổi tuyên truyền chung chung, cán bộ phụ trách trở thành “người đồng hành” của chủ tàu. Họ thường xuyên gặp gỡ, trao đổi trước mỗi chuyến ra khơi, phân tích rõ các quy định pháp luật, các rủi ro khi vi phạm, đồng thời hướng dẫn cụ thể về ranh giới khai thác, quy trình liên lạc khi hoạt động trên biển. Trong quá trình tàu hoạt động, cán bộ phụ trách duy trì liên lạc, theo dõi thông qua hệ thống giám sát hành trình, kịp thời nhắc nhở khi phương tiện có dấu hiệu di chuyển gần khu vực nhạy cảm. Sau mỗi chuyến biển, việc đánh giá, rút kinh nghiệm cũng được thực hiện nghiêm túc.

Là người nhiều năm bám địa bàn, thuộc từng bến cá, nhớ từng chủ tàu, thậm chí nắm rõ hoàn cảnh của từng gia đình, Trung tá Võ Duy Thạnh, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Thanh Hải cho biết: Cách làm này tạo ra sự ràng buộc trách nhiệm hai chiều. Ngư dân không chỉ chịu sự quản lý, mà còn cảm nhận được sự quan tâm, hỗ trợ; trong khi cán bộ không thể “khoán trắng” mà phải theo sát phương tiện đến cùng.

Tuyên truyền cá thể hóa, kiểm soát từ sớm, từ xa

Một trong những điểm khác biệt của mô hình là phương thức tuyên truyền được cá thể hóa theo từng đối tượng. Thay vì áp dụng một nội dung chung cho tất cả, cán bộ phụ trách lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với từng chủ tàu. Với những người còn hạn chế về nhận thức pháp luật, cán bộ sử dụng cách diễn giải đơn giản, dễ hiểu, gắn với các tình huống thực tế. Với những chủ tàu từng vi phạm, nội dung tuyên truyền đi sâu vào phân tích hậu quả pháp lý, thiệt hại kinh tế và uy tín cá nhân. Với những trường hợp gặp khó khăn về kinh tế, công tác vận động được kết hợp với định hướng sinh kế, giúp họ không phải đánh đổi bằng việc vi phạm. Chính sự linh hoạt này đã giúp thông tin pháp luật không còn khô cứng, mà trở nên gần gũi, dễ tiếp nhận, từng bước hình thành ý thức tự giác trong ngư dân.

Hơn 398.400 lượt ngư dân được tuyên truyền, hàng trăm lớp tập huấn được tổ chức, 100% phương tiện trong diện quản lý lắp đặt thiết bị giám sát hành trình. Những con số ấn tượng ấy phản ánh quy mô của chương trình. Ở Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Phú Quý, công tác tuyên truyền không chỉ dừng lại ở những buổi phổ biến văn bản pháp luật khô cứng, mà đã được “đời sống hóa” bằng cách tiếp cận gần gũi, dễ hiểu.

Thượng úy Mai Văn Minh, Đội trưởng Vận động quần chúng, Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Phú Quý là minh chứng sinh động cho sự tận tâm. Nhiều năm qua, anh không quản ngại khó khăn, thường xuyên đến từng gia đình ngư dân, nhất là những hộ có hoàn cảnh khó khăn, để tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhiều gia đình thay đổi tập quán khai thác lạc hậu, chấp hành nghiêm quy định pháp luật. “Khi mỗi ngư dân hiểu luật, tôn trọng luật và tự bảo vệ mình thì công tác quản lý cũng trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. Ngư dân đã chuyển từ bị động sang chủ động, từ tâm lý né tránh sang tự giác chấp hành”-Thượng úy Mai Văn Minh chia sẻ.

Không dừng lại ở công tác vận động, mô hình còn phát huy hiệu quả rõ rệt trong việc kiểm soát, ngăn ngừa vi phạm ngay từ sớm, từ xa. Thông qua việc theo dõi hành trình, kết hợp với thông tin từ các tổ tàu thuyền tự quản, cán bộ phụ trách có thể phát hiện kịp thời những dấu hiệu bất thường như tàu di chuyển lệch hướng, tăng tốc về phía ranh giới hoặc mất tín hiệu thiết bị. Khi đó, việc liên lạc nhắc nhở được thực hiện ngay lập tức. Trong nhiều trường hợp, chỉ một cuộc gọi đúng thời điểm đã giúp phương tiện điều chỉnh hướng đi, tránh nguy cơ vi phạm. Cơ chế này giúp chuyển từ xử lý vi phạm sang phòng ngừa vi phạm, tạo nên một bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý.

Các phương tiện khai thác trên biển được Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng phối hợp theo dõi, giám sát chặt chẽ thông qua thiết bị giám sát hành trình tàu cá. Ảnh: Văn Hoàn

Các phương tiện khai thác trên biển được Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng phối hợp theo dõi, giám sát chặt chẽ thông qua thiết bị giám sát hành trình tàu cá. Ảnh: Văn Hoàn

Tạo niềm tin, hiệu quả rõ nét

Một trong những giá trị lớn nhất mà mô hình mang lại là xây dựng được niềm tin giữa Bộ đội Biên phòng và ngư dân. Khi cán bộ thực sự gần dân, hiểu dân, chia sẻ với khó khăn của ngư dân, các quy định pháp luật không còn là rào cản; ngư dân sẵn sàng hợp tác, chủ động cung cấp thông tin, thậm chí tự giác nhắc nhở lẫn nhau trong cộng đồng. Thực tiễn triển khai cho thấy, mô hình đã góp phần giảm rõ rệt số vụ vi phạm vùng biển nước ngoài. Nhiều phương tiện từng nằm trong diện nguy cơ cao nay đã chấp hành nghiêm quy định, hoạt động đúng ngư trường cho phép. Quan trọng hơn, mô hình đã tạo ra sự chuyển biến về chất trong nhận thức của ngư dân. Từ chỗ thiếu thông tin, dễ bị tác động bởi lợi ích trước mắt, họ đã hiểu rõ hơn về pháp luật, về chủ quyền quốc gia và trách nhiệm của mình.

Đại tá Trần Việt Hưng, Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng cho biết: Trong thời gian tới, để nâng cao hơn nữa hiệu quả, Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong giám sát hành trình, đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trực tiếp phụ trách. Đặc biệt, việc duy trì tính bền vững của mô hình phụ thuộc lớn vào yếu tố con người, nhất là những cán bộ thực sự tâm huyết, trách nhiệm, coi ngư dân như người thân, đồng hành cùng họ trong mỗi chuyến vươn khơi.

Từ hiệu quả đạt được, có thể khẳng định, mô hình “Cán bộ, đảng viên phụ trách phương tiện có nguy cơ cao vi phạm khi đánh bắt ở vùng biển nước ngoài” của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng là một hướng đi đúng, phù hợp với thực tiễn. Khi trách nhiệm được “định danh” đến từng cá nhân, khi công tác quản lý gắn với con người cụ thể, hiệu quả không chỉ thể hiện ở những con số, mà còn hiện hữu trong sự thay đổi bền vững của cả một cộng đồng. Đây chính là nền tảng quan trọng để bảo vệ chủ quyền biển, đảo từ sớm, từ xa, bằng chính ý thức và hành động của ngư dân.

Văn Hoàn

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/giu-tau-ca-khong-di-lac-post502922.html