Từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội, việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chính trị, chính ủy, chính trị viên.
Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ 'lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu' ngày 7/5/1954, 'được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc'(1).
70 năm trước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ 'chấn động địa cầu', kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đưa Việt Nam bước sang thời kỳ mới: Miền Bắc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Cách đây 70 năm, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã đập tan hoàn toàn Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, góp phần quyết định kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ năm 1954 ghi vào lịch sử dân tộc ta như 'một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ 20' và đi vào lịch sử thế giới như 'một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc'(1).
Trải qua 56 ngày đêm 'khoét núi ngủ hầm, cơm dầm mưa vắt, máu trộn bùn non' (từ ngày 13/3 đến 7/5/1954), quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, sự chỉ huy tài tình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm của Pháp vốn được coi là 'pháo đài bất khả xâm phạm', làm nên một chiến thắng 'lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu'.
'Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng' - Tố Hữu. Ngày 7-5-1954 quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm nên chiến thắng 'lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu', kết thúc thắng lợi chín năm cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược, đánh dấu trang sử mới của dân tộc Việt Nam.
Ngày 7/5/1954, quân và dân Việt Nam lập nên kỳ tích 'chấn động địa cầu' khi đập tan Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ- 'pháo đài bất khả xâm phạm', niềm kiêu hãnh của quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Chiến thắng này không chỉ là chiến thắng của sức mạnh trí tuệ và lòng dân, mà còn góp phần quyết định kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta.
Để bảo vệ và xây dựng Thanh Hóa thành căn cứ, hậu phương vững mạnh cho cuộc kháng chiến chống Pháp, trên cơ sở quán triệt chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã luôn coi trọng công tác quân sự, xây dựng lực lượng vũ trang (LLVT) vững mạnh để vừa chiến đấu bảo vệ quê hương, vừa dồn lực chi viện cho các chiến trường. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cùng với Đảng bộ và các tầng lớp Nhân dân, lực lượng vũ trang Thanh Hóa đã có đóng góp rất lớn.
Cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, cùng uống chung dòng nước Mê Kông, có nhiều điểm tương đồng về địa lý, lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội, từ rất sớm, ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia đã có sự liên minh chiến đấu chống thù chung.
56 ngày đêm kiên cường chiến đấu, quân và dân ta đã giành thắng lợi vang dội, đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của quân viễn chinh Pháp. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý, trong đó bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nội dung có ý nghĩa thời đại sâu sắc.
Ngay từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ, kháng chiến là con đường duy nhất để bảo vệ độc lập, tự do, bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám. Đây sẽ là cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Điều đó đã được chứng minh bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc trên khắp thế giới.
Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, nhân dân ba nước Đông Dương luôn phải đương đầu với các thế lực xâm lược lớn mạnh. Do điều kiện địa lý và lịch sử, nhân dân ba nước phải dựa vào nhau mới có đủ sức mạnh để chiến thắng kẻ thù chung.