Ông ngoại
HNN - Ông ngoại! Ai cũng có trong lòng một 'ông ngoại' của riêng mình bởi tình yêu thương, cưng chiều đặc biệt mà mỗi ông ngoại đều ưu tiên dành cho cháu ngoại. Ông ngoại tôi, ngoài tình yêu thương 'mẫu số chung' ấy, trong sâu thẳm, còn có sự bù đắp cho người con gái ruột thịt thiếu vắng cha từ khi mới chào đời, chịu cảnh chia lìa khi cha đi làm cách mạng và bị tù đày, nên ông thương mạ tôi và các cháu ngoại bằng một tình nhớ thương dồn nén mấy chục năm. Đất nước vừa thống nhất là ông tôi thăm hỏi khắp bà con. Khi biết mạ tôi ở Huế, ông liền thu xếp về Huế thăm con gái và cháu ngoại.

Ông ngoại tôi là con trai thứ hai của họa sĩ Lê Văn Miến (1874 - 1943). Trong bài viết “Lê Văn Miến - phẩm cách và tài năng” đăng trên Tạp chí Sông Hương ngày 19/4/2024, nhà văn Nguyễn Khắc Phê có một đoạn viết về ông ngoại tôi, tức là ông Hai Chương: “Ông Lê Văn Chương, sinh năm 1905, sau khi đỗ Thành chung được bổ làm Phán sự tòa sứ tỉnh Phan Thiết. Vì chống lại viên công sứ Pháp và ông tham gia tổ chức cách mạng của cụ Lê Huân (1876 - 1929, từng đỗ Giải Nguyên kỳ thi Hương, nhà cách mạng nổi tiếng, bị tù Côn Đảo...) nên ông bị cách chức. Ông về Huế, dạy trường tư thục Hồ Đắc Hàm vào lúc học sinh Quốc Học biểu tình, bị Pháp đàn áp dã man. Lòng sục sôi căm thù, không nề nguy hiểm đến tính mạng, ông giựt đứt râu và đánh tên cò Pháp sặc máu mũi. Ông bị bắt ngay tại trận, bị kết án 12 năm tù (sau giảm xuống 7 năm) đưa ra giam tại nhà lao Phủ Lý. Thời kháng chiến chống Pháp, ông tham gia viết báo “Giết giặc” và làm ủy viên kinh tài Bình Trị Thiên, bị Pháp bắt được, đưa ra Côn Đảo giam ở ngục cầm cố 7 năm. Sau Hiệp định Genève 1954, ông được trao trả về miền Bắc, làm ở Bộ Tài chính (thời ông Hoàng Anh làm Bộ trưởng). Ông mất năm 1979 với “tam không”: Không có nhà cửa, không có tiền của riêng tư và không có con trai nối dõi”.
Mạ tôi là người con duy nhất của ông ngoại tôi. Khi mạ tôi được 2 tuổi thì bà ngoại tôi mất. Ông ngoại đi tham gia cách mạng, nên mạ tôi được bà cố ngoại nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, lấy chồng, sinh con. Tin tức về ông ngoại tôi chỉ là mơ hồ và sau đó mất hẳn. Cuộc gặp mặt giữa mạ tôi với ông ngoại tôi vài tháng sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, bây giờ mỗi khi nhớ lại, tôi càng thấm thía ý nghĩa đó là cuộc gặp gỡ trùng phùng niềm vui, vỡ òa hạnh phúc tình cha - con, ông - cháu. Đó là cuộc đoàn tụ gia đình, nhìn rộng ra, cũng là cuộc đoàn tụ Bắc - Nam trong hàng trăm ngàn cuộc đoàn tụ trên khắp đất nước mình.
Hồi ấy, tôi là cô bé 8 tuổi. Tôi nhớ, ăn cơm tối xong là mạ tôi và mấy anh đi lên ga Huế chờ đón ông, bà ngoại. Tàu Thống Nhất hồi ấy, hẳn nhiều người bây giờ còn nhớ, việc mua vé vô cùng khó khăn, tàu đi từ Hà Nội vào Huế mất hai ngày một đêm. Chờ đợi đến hơn 1 giờ khuya thì đón được ông bà, về đến nhà cũng gần hai giờ sáng.
Những ngày chuẩn bị đi đón ông, bà ngoại, mạ tôi luôn kể về ba của mình qua những gì bà biết từ lời kể của bà cố ngoại tôi, đến lúc ấy tôi mới biết mình có... ông ngoại ở Hà Nội và ông sắp vào thăm.
Đêm cả nhà đi lên ga Huế, tôi ở nhà với anh tư. Anh tôi xuống bếp nấu một nồi chè đậu đỏ để đón ông bà. Tôi chờ mãi ngủ thiếp đi cho đến khi anh tôi lay mạnh: “Ông, bà ngoại về rồi. Dậy, dậy, dậy”. Tôi mắt nhắm, mắt mở vùng dậy. Hồi ấy không có điện, ngọn đèn bát tỏa ánh sáng ấm áp, cả nhà tôi vây quanh ông bà. Trong vòng ánh sáng ấy, ông ngoại đưa tay về phía tôi, vẫy tôi lại gần, xoa đầu và ôm tôi: “Cháu H. đây phải không, đứa út đây há?”. Mạ tôi và các anh tôi, người thì “Dạ, dạ”, người thì cười hạnh phúc nhìn ông ôm tôi. Tôi ôm chặt ông mình, áp đầu vào ngực ông tin cậy, lần đầu tiên gặp mặt mà tình máu mủ ruột rà khăng khít, không hề có sự xa lạ nào...
Từ đó, tôi có ông, bà ngoại. Hàng tháng, mạ tôi ngồi đọc cho tôi viết thư thăm ông, tôi còn nhớ bao giờ câu đầu tiên cũng là “Kính hầu thăm ba mẹ! Kính hầu thăm ông bà”. Tôi cũng không hiểu vì sao mình nhớ rõ như thế. Địa chỉ nhà ông bà ghi dấu vào lòng tôi là một địa chỉ của nhớ thương, của tình ông cháu “Kính gửi ông ngoại Lê Văn Chương, số nhà 57 Bùi Thị Xuân, khu phố Hai Bà Trưng, Hà Nội”.
Mùa hè năm 1977, mạ đưa tôi ra thăm ông bà. Đó là lần đầu tiên mạ tôi đi Hà Nội. Cũng chạy vạy tiền nong rồi nhờ người quen biết mua vé tàu cả tháng mới có được. Nhà ông bà tôi là ngôi nhà tập thể ba tầng ở cùng mấy hộ nữa. Cả ngôi nhà dùng chung một vòi nước trước sân, lần đầu tiên tôi biết cảnh chờ hứng nước ở vòi. Mùa hè năm ấy thời tiết ở Hà Nội nóng đến nỗi hai bàn tay tôi nổi sảy nước. Mọi người trong ngôi nhà khi biết mạ tôi là “Con gái ông Chương ở miền Nam ra” thì đều thăm hỏi ân cần, quý mến. Hồi ấy nghe người ở miền Nam ra ai cũng vui mừng như gặp người thân vậy. Rồi ông ngoại đưa mạ và tôi đi thăm lăng Bác, đi chơi hồ Gươm, ăn kem Tràng Tiền, đến thăm nhà bà con. Trong nhiều món ngon ở Hà Nội, hồi ấy tôi mê mẩn món quẩy ăn với phở.
Ông tôi mất năm 1979, bà ngoại mất sau ông một năm. Mạ tôi nhớ thương kể nhiều chuyện về ông, như là ông tôi giỏi võ, giỏi tiếng Pháp, nghiên cứu cây thuốc nam, tay không đánh cọp... Có lần nhà nghiên cứu Nguyễn Thế nói cho tôi biết rằng tên mạ tôi được ông ngoại đặt theo tên đất Trường An (Phước Tích - Phong Điền) - đó là nơi ông cố tôi đưa cả nhà về đây ở.
Tôi có may mắn là nghề nghiệp cho tôi được đi nhiều. Nhớ có một dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, Đài Phát thanh và Truyền hình Thừa Thiên Huế cử tôi và phóng viên Phan Thành Long ra Hà Nội tìm phỏng vấn các cụ có gắn liền với Cách mạng tháng Tám ở Huế. Tôi đã có cuộc phỏng vấn nhà thơ Tố Hữu và cụ Hoàng Anh (theo lời mạ tôi kể ông ngoại tôi làm việc dưới quyền của cụ). Nhân dịp đó tôi hỏi thăm về ông ngoại của mình và cụ nhớ ngay: “Anh Chương là một người cương trực và nóng tính”.
Rồi cũng theo lời kể của mạ mà khi đi làm phim ở Côn Đảo, tôi đã tần ngần đứng trước những căn phòng tù giam, sân trại tù, cầu tàu hay khi thắp hương ở nghĩa trang liệt sĩ, thăm phòng trưng bày truyền thống ở Côn Đảo, lòng tôi thầm nhắc đến ông ngoại. Nơi này, ông ngoại tôi đã trải qua những năm tháng tuổi trẻ, sống thật quyết liệt và anh hùng với lý tưởng cách mạng.
Hà Nội có những con đường với hàng cây cổ thụ xanh mát, những ngôi nhà kiến trúc Pháp quét vôi màu vàng, những ngôi chùa mái ngói rêu phong, phong cảnh có nét thâm trầm, cổ kính như Huế nên tôi càng thấy mình gần gũi với Hà Nội. Trong sâu thẳm tôi biết, tôi thường xúc động mỗi khi đến Hà Nội vì thêm một lẽ nữa, trong Hà Nội có bóng hình của ông ngoại tôi.
Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/doi-song/ong-ngoai-165157.html











