Dấu tích chùa xưa
Thác bản văn bia chùa Phổ Quang còn lưu giữ đã góp phần phục dựng diện mạo lịch sử - văn hóa của làng Thanh Châu xưa (nay thuộc phường Hội An Đông, thành phố Đà Nẵng). Từ tư liệu này, chùa Phổ Quang tuy không còn dấu tích kiến trúc nhưng ký ức lịch sử hiện lên như một minh chứng sinh động cho đời sống tín ngưỡng và quá trình khai phá, phát triển của cư dân địa phương qua nhiều thế kỷ.

Thác bản văn bia chùa Phổ Quang. Ảnh: P.P.T
Dấu tích chùa cổ qua văn bia Hán - Nôm
Thanh Châu là một trong những làng hình thành sớm ở vùng đất Hội An, từng giữ vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử - văn hóa của địa phương.
Trong quá trình sưu tầm tư liệu, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận được thác bản văn bia chùa Phổ Quang - một ngôi chùa từng tồn tại tại làng Thanh Châu. Tư liệu này được giới thiệu trong Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm (tập 20, số ký hiệu 19350, trang 350) do Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam phối hợp với Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp và Viện Cao Học Thực hành Đại học Sorbonne (Pháp) xuất bản và công bố.
Theo nội dung văn bia, chùa Phổ Quang được xây dựng/trùng tu vào năm Tự Đức thứ 7 (1854) tại xứ Cây Giá, trên diện tích khoảng 2 sào, từ nguồn ruộng đất do người dân địa phương cúng tiến. Không chỉ ghi nhận công đức, văn bia còn phản ánh rõ vai trò chủ thể của cộng đồng trong việc kiến tạo không gian tín ngưỡng.
Đối chiếu tư liệu địa bạ năm Gia Long và văn bia năm Tự Đức cho thấy sự khác biệt về diện tích cũng như tứ cận của khu đất chùa, qua đó phần nào phản ánh những biến động về đất đai và địa giới hành chính qua thời gian.
Tư liệu quý cho nghiên cứu lịch sử - văn hóa địa phương
Văn bia chùa Phổ Quang không chỉ có giá trị về mặt tư liệu mà còn mang giá trị nghệ thuật đáng chú ý. Tráng bia trang trí hình lưỡng nghi, diềm bia chạm khắc rồng cách điệu kết hợp hoa dây, hồi văn, chữ khắc theo lối khải thư, hiện vẫn còn rõ nét.
Bia được lập vào năm Tự Đức thứ 7 (1854), do Yến hộ Thư lại Nguyễn Văn Tố đứng ra dựng. Ông là một trong những yến hộ tham gia khai thác yến sào - nghề truyền thống gắn liền với cư dân làng Thanh Châu. Nghề này từng được ghi nhận trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, cho thấy vai trò kinh tế quan trọng của địa phương trong lịch sử.
Dưới triều Nguyễn, vào năm 1805, vua Gia Long đã cho phép quy tập dân Thanh Châu lập đội khai thác yến sào, hằng năm nộp sưu yến, đồng thời miễn giảm một số loại sưu thuế. Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với một ngành nghề đặc thù, góp phần ổn định sinh kế cho cư dân địa phương.
Từ những thông tin còn lưu lại trên văn bia, có thể thấy chùa Phổ Quang từng là một thiết chế tín ngưỡng quan trọng trong đời sống cộng đồng làng Thanh Châu. Dù ngày nay không còn hiện diện, nhưng qua tư liệu Hán Nôm, ngôi chùa vẫn góp phần làm sáng tỏ lịch sử địa phương cũng như quá trình phát triển của Phật giáo tại vùng đất Hội An.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/dau-tich-chua-xua-3335973.html











